phần mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: 6 Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát thu phí, lệ phí trong cơ quan hành chính nhà nƣớc. Thực trạng kiểm soát thu phí, lệ phí tại Chi cục Kiểm dịch thực vật Vùng IV. Giải pháp hoàn thiện kiểm soát thu phí, lệ phí tại Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng IV.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THU PHÍ, LỆ PHÍ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1. KIỂM SOÁT VÀ QUY TRÌNH KIỂM SOÁT TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH 1. Khái quát về kiểm soát trong quản lý 1.1 Khái niệm về kiểm soát Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực đã xác định để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Theo Jones & George [9] kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát về điều tiết hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức.
Kiểm soát cũng có nghĩa là giữ cho hoạt động của tổ chức, cá nhân theo đúng định hƣớng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra. Theo Lý thuyết kiểm toán [10], kiểm soát đƣợc hiểu là tổng thể các phƣơng sách để nắm lấy và điều hành các đối tƣợng hoặc khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra. Theo Từ điển Tiếng Việt [5] , kiểm soát là sự xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Theo Nguyễn Thị Phương Hoa [6] cho rằng: “Kiểm soát là quá trình đo lƣờng, đánh giá và tác động lên đối tƣợng kiểm soát nhằm bảo đảm mục tiêu của tổ chức đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả”.
Tóm lại: Kiểm soát là hoạt động đƣợc gắn liền với quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm soát, kiểm soát đƣợc xem là một chức năng của quản lý. Để đảm bảo hiệu quả cho mọi hoạt động của mình, mỗi đơn vị đều phải 8 kiểm tra các hoạt động trong tất cả các khâu, rà soát các tiềm năng, xem xét các dự báo, đối chiếu các thông tin đã thực hiện để đánh giá mức độ hiệu quả mang lại, công việc kiểm tra, rà soát đó đƣợc gọi là kiểm soát.2 Vai trò của kiểm soát trong quản lý hành chính Vai trò của kiểm soát trong quản lý đƣợc thể hiện trên nhiều mặt: Một là, kiểm soát góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý: Nhƣ đã phân tích kiểm soát là không thể thiếu đƣợc trong hoạt động quản lý. Các thông tin do các cơ quan thực hiện kiểm soát cung cấp cho chủ thể quản lý càng chính xác, đúng đắn thì càng bảo đảm sự thành công và hiệu quả của hoạt động quản lý. Đồng thời khi nhận đƣợc các thông tin qua các kết luận của cơ quan kiểm soát, khách thể kiểm soát cùng tự điều chỉnh hành vi của mình để sửa chữa những thiếu sót, sai phạm và tự hoàn thiện mình; Hai là, kiểm soát góp phần hoàn thiện pháp luật, bộ máy các cơ quan Nhà nƣớc: Cơ quan kiểm soát với chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác bảo vệ nền pháp chế XHCN; thông qua hoạt động kiểm soát, phát hiện những sơ hở, khiếm khuyết, không hợp lý.
Những thiếu sót của pháp luật, của cơ chế hoạt động quản lý và cơ cấu tổ chức bộ máy, kịp thời phản ánh, kiến nghị đến các chủ thể quản lý. Từ những phản ánh, kiến nghị, kết luận kiểm soát, các chủ thể quản lý sẽ nghiên cứu tiến hành sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, ban hành mới các văn bản pháp luật, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và đổi mới cơ chế quản lý cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nƣớc. Đồng thời, chủ thể quản lý cũng đƣợc phản ánh về tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức, phong cách và lề lối làm việc cũng nhƣ các sai phạm, thiếu sót, năng lực làm việc của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nƣớc. Qua đó, đề ra đƣợc phƣơng pháp, kế hoạch nhằm bồi dƣỡng, sử dụng và xử lý, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng trong sạch vững mạnh; 9 Ba là, kiểm soát góp phần đảm bảo thực thi pháp chế, phòng ngừa vi phạm pháp luật và những hiện tƣợng tiêu cực, hành vi phạm tội: Một Nhà nƣớc chỉ có một hệ thống pháp luật chƣa đủ để giữ vững an ninh, trật tự xã hội mà phải có một nền pháp chế vững chắc.
Pháp luật chỉ có hiệu lực thực sự khi nó đƣợc xây dựng trên nền pháp chế vững chắc. Ngƣợc lại nền pháp chế chi đƣợc đảm bảo khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp. Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả các quan hệ xã hội theo ý chỉ nhà nƣớc. Để loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống pháp chế, nhà nƣớc phải thƣờng xuyên, liên tục tiến hành hoạt động kiểm soát để xem xét tại chỗ những việc làm đúng hay sai của các chủ thể quản lý, của cán bộ, công chức trong việc thực thi pháp luật, thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao.
Những hành vi, vi phạm pháp luật, những biểu hiện tiêu cực, những hành vi phạm tội là trái với những quy định của pháp luật cần phải đƣợc ngăn chặn và phải đuợc xử lý để loại bỏ dần ra khỏi đời sống xã hội. Mục đích của hoạt động kiểm soát là phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế nhân tố tiêu cực, phòng ngừa, ngăn chặn, khi cần thiết thì xử lý vi phạm để đảm bảo việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật nhà nƣớc của toàn thể tổ chức và cá nhân trong toàn xã hội làm cho xã hội ổn định và phát triển bền vững; Bốn là, kiểm soát góp phần bảo vệ tài sản, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nƣớc và công dân: Trong hoạt động kinh tế, pháp luật là phƣơng tiện hàng đầu để xác định địa vị pháp lý bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế, tạo lập các “hành lang pháp lý” để các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với xã hội thì pháp luật ghi nhận và thể chế hoá quyền con ngƣời, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó đƣợc thực hiện. Pháp luật còn trở thành phƣơng tiện để nhà nƣớc và cá nhân là các thành viên trong xã hội có điều kiện để bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình, cũng nhƣ tài sản, danh dự, nhân 10 phẩm và sự công bằng của xã hội thông qua các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có kiểm soát; Năm là, Hoạt động kiểm soát bảo đảm phát huy dân chủ góp phần ổn định và phát triển: Hoạt động kiểm soát (đặc biệt là hoạt động thanh tra, giám sát) chủ yếu đƣợc tiến hành công khai trong phạm vi xác định từ nội dung, thời gian đến kết luận.
Các hoạt động thanh tra này thƣờng tập trung khai thác thông tin ở những ngƣời không sử dụng cơ sở đặc tính, càng không sử dụng phƣơng pháp nội tuyến hoặc ngoại tuyến. Công khai và không áp đặt, không chụp mũ, luôn lắng nghe sự giải trình [4], [6], [7]. Phân loại kiểm soát Kiểm soát và mục tiêu kiểm soát cụ thể luôn có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau. Đồng thời, khi tính chất và phạm vi mục tiêu có sự thay đổi thì cách kiểm soát cũng có thể thay đổi theo.
Tùy theo các tiêu thức khác nhau, hoạt động kiểm soát có thể dƣợc phân thành các loại [6], [9]. - Phân loại theo mục tiêu kiểm soát: Theo cách phân loại này, kiểm soát đƣợc chia thành 3 loại: + Kiểm soát ngăn ngừa: Là kiểm soát nhằm ngăn chặn các sai phạm hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát này thƣờng đƣợc thực hiện trƣớc khi nghiệp vụ xảy ra và thực hiện ngay trong công việc thƣờng ngày của nhân viên theo chức năng: phân chia tách nhiệm, giám sát, kiểm tra tính hợp lý. + Kiểm soát phát hiện: Là kiểm soát tập trung vào việc phát hiện các gian lận, sai sót và rủi ro trong quá trình tác nghiệp một cách nhanh chóng, nhằm giúp các cấp lãnh đạo có những quyết định xử lý kịp thời, hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra.
+ Kiểm soát điều chỉnh: Là kiểm soát hƣớng tới việc cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh các sai sót đƣợc thực hiện. - Phân loại theo nội dung kiểm soát: Theo cách phân loại này, kiểm soát đƣợc chia thành 2 loại: 11 + Kiểm soát hành chính: Là kiểm soát chi tập trung vào các thể thức kiểm tra nhằm bảo đảm cho việc diều hành công tác cơ quan, đơn vị có nề nếp, nghiêm minh và hiệu quả. Kiểm soát hành chính đƣợc thực hiện trên lĩnh vực tổ chức và hành chính ở mọi cấp độ, từ khâu tuyển chọn nhân viên, xây dựng tác phong, quy trình làm việc, tổ chức và thực hiện công việc cùng với các thao tác kiểm soát trong quá trình chấp hành mệnh lệnh ở đơn vị, tổ chức. + Kiểm soát kế toán.
Gồm các khâu nhƣ lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện theo các trình tự cần thiêt cho việc bảo vệ tài sản và độ tin cậy của sổ sách tài chính kế toán. Nhƣ vậy, phải đảm bảo hợp lý rằng các nghiệp vụ đƣợc tiến hành theo sự chỉ đạo chung cụ thể của quản lý; các nghiệp vụ đƣợc ghi sổ là sự cần thiết để giúp việc chuẩn bị các báo cáo tài chính đúng với nguyên tắc kế toán chung đƣợc thừa nhận hoặc các tiêu chuẩn có thể áp dụng cho các báo cáo này và duy trì khả năng hoạch toán tại đơn vị; các hoạt động đƣợc ghi nhận vào các thời điểm thích hợp, giúp cho việc thiết lập thông tin kế toán tài chính phù hợp với các quy chuẩn chung của chế độ kế toán. - Theo chủ thể kiểm soát: Bao gồm: + Kiểm soát từ bên ngoài (ngoại kiểm): Là loại kiểm soát do chủ thể kiểm soát ở bên ngoài đơn vị thực hiện. + Kiểm soát từ bên trong (nội bộ): Là loại kiểm soát do nhà quản lý của đơn vị thực hiện, thông qua các hoạt động kiểm tra, kiểm soát nhằm mục đích quản trị nội bộ.