phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, phục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ các khoản chi cấp huyện. 6 Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ các khoản chi tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ các khoản chi tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CÁC KHOẢN CHI CẤP HUYỆN 1.
Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong khu vực công 1. Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ KSNB bắt đầu đƣợc sử dụng vào đầu thế kỷ 20. Từ năm 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ đã xuất bản nhiều báo cáo, hƣớng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán. Năm 1992, báo cáo COSO ra đời đã tạo lập cơ sở lý thuyết cơ bản về KSNB.
Sự xuất hiện của báo cáo này đã đƣa ra khái niệm, một cách hiểu chung đƣợc chấp nhận rộng rãi về KSNB và hỗ trợ các nhà quản lý kiểm soát tổ chức tốt hơn. Trong lĩnh vực công, KSNB rất đƣợc xem trọng và đƣợc kiểm toán viên nhà nƣớc đặc biệt quan tâm. Một số quốc gia nhƣ Hoa Kỳ, Canada,… đã công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan sự nghiệp. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nƣớc Hoa Kỳ (GAO ban hành năm 1999) có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức sự nghiệp.
GAO đƣa ra năm yếu tố về KSNB bao gồm các quy định về MTKS, ĐGRR, HĐKS, TT-TT và HĐGS. INTOSAI ra đời vào năm 1953, với vai trò là hiệp hội nghề nghiệp của các SAI. INTOSAI là một tổ chức tự chủ, độc lập và phi chính trị đƣợc thành lập nhƣ một thể chế vĩnh viễn, trụ sở chính đặt tại thủ đô Viên của nƣớc Áo. Trong các kỳ đại hội, INTOSAI đặt trọng tâm vào các vấn đề chủ yếu đang đặt ra đối với SAI, giúp các thành viên đƣa ra các giải pháp sáng tạo nhằm khắc phục những trở ngại chung.
INTOSAI đã góp phần rất lớn giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ: Kiểm toán các tài khoản, hoạt động của chính phủ, thúc đẩy việc lành mạnh hóa trong quản lý tài chính và nâng cao chất lƣợng giải trình của chính phủ ở từng quốc gia. Ngoài ra, INTOSAI còn 8 là diễn đàn để kiểm toán viên nhà nƣớc trên thế giới trao đổi những vấn đề cùng quan tâm, cập nhật những tiến bộ mới nhất của các chuẩn mực kiểm toán, các quy định về nghề nghiệp khác cũng nhƣ những thông lệ tốt nhất. Năm 1992, INTOSAI đã ban hành hƣớng dẫn về KSNB áp dụng cho khu vực công. Tài liệu hƣớng dẫn này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO và những đặc thù của khu vực công.
Hƣớng dẫn này đã đƣợc cập nhật vào năm 2001 và công bố vào năm 2004. Đến năm 1997, Việt Nam tham gia Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI). ASOSAI đã tổ chức 13 đại hội, Việt Nam đã đăng cai tổ chức đại hội 14 tại Hà Nội vào năm 2018. Việt Nam là thành viên đƣơng nhiên trong Ban Điều hành ASOSAI nhiệm kỳ 2015 - 2018, đồng thời là nƣớc Chủ tịch của ASOSAI nhiệm kỳ 2018 - 2021.
Năm 2013, INTOSAI tiếp tục cập nhật, công bố áp dụng vào năm 2014. Tháng 7 năm 1996, Kiểm toán nhà nƣớc Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức INTOSAI. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Theo hƣớng dẫn INTOSAI năm 2013 “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong đơn vị, quá trình này được thiết lập để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ chung của tổ chức”. KSNB là một quá trình không thể thiếu của tổ chức nhằm đạt các mục tiêu về: Tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động trong đơn vị; Tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan; Thiết lập, báo cáo các thông tin quản lý, thông tin tài chính đáng tin cậy và đảm bảo tính kịp thời; Bảo vệ nguồn lực không thất thoát, hƣ hỏng và sử dụng sai mục đích.
Trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức thì chức năng kiểm tra, kiểm soát, giám sát đóng vai trò rất quan trọng. Vì vậy, nhà lãnh đạo luôn tìm ra cách thức để có thể kiểm soát cơ quan, đơn vị, tổ chức mình ngày một 9 tốt hơn. KSNB đƣợc thiết lập để giúp cho cơ quan, đơn vị, tổ chức đạt đƣợc mục tiêu đề ra cũng nhƣ việc tuân thủ các tiêu chí hoạt động khi giảm thiểu các yếu tố xảy ra bất ngờ, gây tác động xấu đến mục tiêu và hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức. KSNB giúp cơ quan, đơn vị, tổ chức có thể ứng phó kịp thời với các thay đổi trong nền kinh tế, môi trƣờng cạnh tranh cũng nhƣ nhìn thấy đƣợc những nhu cầu, xu hƣớng muốn hƣớng đến sự phát triển chung trong tƣơng lai.
KSNB trong các đơn vị hƣớng đến các mục tiêu sau: + Mục tiêu hoạt động: Mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị. Các hoạt động của đơn vị đƣợc thực hiện một cách có đạo đức, có kỷ cƣơng, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp; thực hiện đúng trách nhiệm. + Mục tiêu về báo cáo: Mục tiêu này liên quan đến việc hƣớng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp giảm thiểu gian lận; từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cƣờng năng lực giám sát của tổ chức. + Mục tiêu tuân thủ: Liên quan đến việc tuân thủ pháp luật hiện hành, các điều ƣớc quốc tế, các nguyên tắc và các quy định có liên quan.
+ Mục tiêu về quản lý nguồn lực: Mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị; nhƣng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lãng phí nguồn lực quốc gia, bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát và sử dụng sai mục đích. Các nguyên tắc KSNB là: Nguyên tắc phân công, phân nhiệm; Nguyên tắc bất kiêm nhiệm; Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn. Các nguyên tắc kết nối KSNB theo quy định khuôn mẫu: Hƣớng dẫn cụ thể KSNB trong môi trƣờng tin học; Hƣớng dẫn biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với các rủi ro đã đánh giá,…. KSNB gồm 05 yếu tố: MTKS, ĐGRR, HĐKS, TT-TT và HĐGS.
10 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 việc “Xác định và ĐGRR có sai sót trọng yếu thông qua các hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị” có đề cập đến khái niệm KSNB nhƣ sau: KSNB là quy trình do Ban Quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và quy định liên quan. Theo Luật Kế toán 2015 “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. Dƣới góc độ của Nhà lãnh đạo, Nhà hoạch định chính sách qua quá trình nhận thức tìm hiểu và nghiên cứu KSNB đã dẫn đến hình thành nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng tƣơng đồng về mặt ý nghĩa. Tuy nhiên, định nghĩa đƣợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa COSO.
COSO đƣợc thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB và đƣa ra 05 bộ phận cấu thành nhằm giúp các đơn vị có thể xây dựng KSNB một cách hữu hiệu. Hội đồng các tổ chức tài trợ Ủy ban Treadway (COSO) xây dựng mô hình đánh giá KSNB đƣợc thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên thế giới nhƣ những chuẩn mực của chất lƣợng KSNB. KSNB đƣợc định nghĩa là “quá trình do Hội đồng quản trị, ban điều hành và các cá nhân thực thi xây dựng để đưa ra sự đảm bảo hợp lý với mục đích để đạt được những nội dung sau: Tính hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động; Mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính; Tính tuân thủ các quy định và luật pháp hiện hành.” 11 Theo khái niệm trên KSNB đƣợc hiểu nhƣ sau: KSNB là “một quá trình” chứ không phải là một sự kiện, một tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện ở các bộ phận trong đơn vị và đƣợc kết hợp thành một thể thống nhất. KSNB tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó đƣợc xây dựng nhƣ một phần cơ bản nhất trong đơn vị chứ không phải là một hoạt động bổ sung cho các hoạt động của đơn vị hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính.
Quá trình kiểm soát là một phƣơng tiện nhằm giúp cho các đơn vị đạt đƣợc mục tiêu của mình. KSNB cung cấp “sự bảo đảm hợp lý” chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là một số mục tiêu sẽ đạt đƣợc. Vì khi vận hành KSNB, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con ngƣời, vấn đề liên quan đến lợi ích – chi phí,… nên dẫn đến không đạt đƣợc các mục tiêu. KSNB có thể ngăn chặn, phát hiện các sai phạm nhƣng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra.
Tuy nhiên, nguyên tắc cơ bản trong việc đƣa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vƣợt quá lợi ích đƣợc mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Ngƣời quản lý có thể nhận thức đƣợc đầy đủ các rủi ro, tuy nhiên nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục kiểm soát rủi ro. KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục mà phải bao gồm cả con ngƣời trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên và chính con ngƣời thiết lập các mục tiêu, cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. Ngƣợc lại, KSNB cũng tác động tới hành vi của con ngƣời.