Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán CP, DT, KQKD trong các DNSX. Chương 3: Thực trạng công tác kế toán CP, DT, KQKD trong các Cty SX thép thuộc TCT Thép Việt Nam. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện kế toán CP, DT, KQKD trong các Cty SX thép thuộc TCT Thép Việt Nam.8 Những đóng góp mới của luận án * Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận 1. Luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận về kế toán CP, DT, KQKD trong các DNSX.
Cụ thể: (1) Vai trò, bản chất và yêu cầu của kế toán CP, DT, KQKD trong các DNSX 12 (2) Kế toán tài chính CP, DT, KQKD trong các DNSX (3) Kế toán quản trị CP, DT, KQKD trong các DNSX 2. Trên cơ nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế về kế toán CP, DT, KQKD và mô hình kế toán của 2 nước Pháp, Mỹ. Luận án đã chỉ ra mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng cho các DNSX ở Việt Nam nên theo mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT trên cùng một hệ thống kế toán, nó phù hợp với đất nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. * Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu - Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kế toán CP, DT, KQKD trong các DNSX thép thuộc TCT thép Việt Nam.
Luận án đã đưa ra những vấn đề tồn tại trong công tác kế toán CP, DT, KQKD tại các Công ty này. Những bất cập đó thuộc về nhận diện và phân loại chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh; việc thực hiện chế độ kế toán về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán, báo cáo kế toán trong công tác kế toán CP, DT, KQKD trên phương diện KTTC; xây dựng định mức và lập dự toán sản xuất, phân tích thông tin để kiểm soát và cung cấp thông tin CP, DT, KQKD phục vụ ra quyết định trên phương diện KTQT. Luận án cũng đã xác định được nguyên nhân chủ quan khách quan của những tồn tại đó xuất phát từ phía Nhà nước và các Công ty sản xuất thép: chưa chặt chẽ trong việc quản lý cấp phép đầu tư của các cơ quan chủ quản; văn vản giữa các Bộ, Ngành còn vênh nhau; nhận thức về vai trò về thông tin kế toán trong công tác quản lý còn hạn chế… - Xuất phát từ những tồn tại, bất cập, luận án đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện nằm trên 2 phương diện nghiên cứu, đó là: + Trên phương diện KTTC, luận án đề xuất hoàn thiện xác định nội dung và phạm vi chi phí; xác định nội dung và phạm vi doanh thu; xác định thời điểm ghi nhân doanh thu; phương pháp kế toán CP, DT, KQKD. + Trên phương diện KTQT, luận án đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy theo mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT; xây dựng định mức giá và lập dự toán; phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí và phục vụ tra quyết định.
13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU, KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2.1 Bản chất, vai trò và yêu cầu của kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất 2.1 Bản chất chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất 2.1 Bản chất chi phí và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất Bản chất chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý HĐKD của DN. Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau nhưng CP chung nhất là sự ghi nhận trên góc độ chủ sở hữu những gì đã bỏ ra với mục đích sẽ thu được những lợi ích lớn trong tương lai. Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) [4] thì CP HĐKD tại các DN bao gồm các chi phí SXKD phát sinh trong quá trình HĐKD thông thường của DN và các CP khác: Chi phí SXKD phát sinh trong quá trình HĐKD thông thường của DN, như: CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC, chi phí BH, chi phí QLDN, CP lãi tiền vay, và những CP liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,. Những CP này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị; CP khác bao gồm các CP ngoài các chi phí SXKD phát sinh trong quá trình HĐKD thông thường của DN, như: CP về thanh lý, nhượng bán TSCĐ, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng.
Các DNSX muốn tiến hành SXKD thì đòi hỏi phải có sự kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Hao phí của tư liệu lao động, đối tượng lao động là hao phí lao động vật hoá, hao phí về sức lao động là hao phí lao động sống. Việc dùng thước đo tiền tệ để phản ánh các hao phí bên trong quá trình SXKD của DNSX được gọi là chi phí SX [13]. 14 Như vậy, xét trên góc độ KTTC, CP được nhìn nhận như những phí tổn đã phát sinh gắn liền với các hoạt động của DN bao gồm các CP phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD thông thường của DN và các CP khác.
Xét về bản chất chất thì chi phí SXKD là sự chuyển dịch vốn của DN vào quá trình SXKD, nên nó bao gồm các CP liên quan trực tiếp đến quá trình SX sản phẩm, CP thời kỳ, CP tài chính. Còn các CP khác là các khoản CP và các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụ bất thường mà DN không thể dự kiến trước được, như: CP thanh lý, nhượng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, truy thu thuế.Có thể nói, về đặc điểm chung, CP trong SXKD có 3 đặc điểm: CP là hao phí tài nguyên (kể cả hữu hình và vô hình), vật chất, lao động; những hao phí này phải gắn liền với mục đích kinh doanh; phải định lượng được bằng tiền và được xác định trong một khoảng thời gian nhất định. Kế toán CP ảnh hưởng đến tính trung thực, hợp lý của các thông tin trên BCTC, cũng như tính đúng đắn của các quyết định trong quản trị DN. Trong các DN quản lý tốt CP, không những tạo điều kiện tăng lợi nhuận, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng.
Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Phân loại chi phí phục vụ cho kế toán tài chính Trong quá trình SX của DN, phát sinh rất nhiều loại CP. Việc phân loại CP một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và hạch toán CP của DN. Với mục đích cung cấp thông tin hữu ích cho quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán, CP kinh doanh thường được PL theo các cách chủ yếu như: PL theo nội dung (tính chất) kinh tế của CP; PL theo cách thức kết chuyển chi phí,. * Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí Đây là một cách PL khác của CP để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý CP theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh của CP, CP được PL theo yếu tố.
15 Theo cách PL này, về thực chất, chi phí SXKD chỉ có 3 yếu tố CP cơ bản là: CP về lao động sống, CP về đối tượng lao động và CP về tư liệu lao động. Tuy nhiên, để cung cấp thông tin về CP một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích ĐM vốn lưu động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán CP, các yếu tố CP trên cần được chi tiết hoá theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng. Để chi tiết hoá phục vụ yêu cầu quản lý, toàn bộ CP thường được chia thành các yếu tố sau: Chi phí nguyên liệu và vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ sử dụng vào SXKD Chi phí khấu hao TSCĐ máy móc thiết bị: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD của DN; Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí cho các dịch vụ mua ngoài dùng vào SXKD; Chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ CP khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ; Chi phí nhân công: Phản ánh các khoản CP về tiền lương, các khoản BHXH, BHYT phải trả cho người lao động. Theo cách PL này thì chi phí SXKD phát sinh nếu có cùng nội dung kinh tế thì được sắp xếp vào một yếu tố bất kể nó phát sinh ở bộ phận nào, dùng để SX ra sản phẩm nào.
Và cách PL này cũng cho ta biết các loại CP nào được dùng vào hoạt động SXKD của DN với tỷ trọng của từng loại CP đó là bao nhiêu. Cách PL này là cơ sở để DN xây dựng các định mức CP cần thiết, lập dự toán CP, lập báo cáo CP theo yếu tố trong kỳ. Ngoài ra, đây cũng là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, huy động sử dụng lao động, xây dựng kế hoạch khấu hao TSCĐ., là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện CP SXKD. * Phân loại theo khoản mục chi phí có trong giá thành sản phẩm tiêu thụ (giá thành đầy đủ) Theo cách PL này, toàn bộ các khoản CP liên quan đến việc SX và tiêu thụ sản phẩm của DN được chia làm 5 loại như sau: 16 Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: là toàn bộ những chi phí về NL, vật liệu trực tiếp tham gia vào việc SX, chế tạo sản phẩm.
Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ tiền lương, tiền công, trợ cấp, phụ cấp và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) mà DN phải trả cho người lao động trực tiếp tham gia quy trình SX sản phẩm. Chi phí SXC: là toàn bộ những CP phát sinh tại phân xưởng SX trừ chi phí NVLTT, CPNCTT. Hay nói cách khác đây là những CP mà mục đích của nó là nhằm tổ chức, quản lý, phục vụ SX ở các phân xưởng, tổ đội SX [34]. + Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm CP tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, tổ đội SX.