Chương 1: Lý luận chung về hoạt động phúc lợi trong các doanh nghiệp, tổ chức Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động phúc lợi cho người lao động tại công ty Marsh và Aon Việt Nam Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động phúc lợi cho người lao động tại công ty Marsh và Aon Việt Nam CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÚC LỢI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP, TỔ CHỨC 16 1.1: Khái niệm vềphúc lợi và hoạt động phúc lợi trong các tổ chức, doanh nghiệp Trong hầu hết các tổ chức, người quản lý đều nhận thấy sự cần thiết phải cung cấp các loại bảo hiểm, và các chương trình khác liên quan đến sức khỏe, sự an toàn, các bảo hiểm và các lợi ích khác cho người lao động. Những chương trình đó được gọi là các phúc lợi cho người lao động, bao gồm tất cả các khoản thù lao tài chính mà người lao động nhận được ngoài các khoản thù lao tài chính trực tiếp. Do đó, phúc lợi được định nghĩa là “phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng các hỗ trợ về cuộc sống cho người lao động”. Thực tế hiện nay có rất nhiều các tài liệu khác nhau định nghĩa về phúc lợi, phúc lợi là những kết quả, những phần thưởng mà công ty cung cấp cho nhân viên: có thể là thăm hỏi nhân viên khi bị ốm đau, đi du lịch hoặc tổ chức các buổi ăn uống, giao lưu…Phúc lợi theo nghĩa đen là kết hợp của 2 từ có ý nghĩa: phúc là hạnh phúc, lộc là lợi lộc, kết hợp lại có nghĩa là những lợi lộc đem lại hạnh phúc cho người lao động.
Bản thân tôi khi nghiên cứu về các hoạt động phúc lợi, có thể định nghĩa “phúc lợi là những phần thưởng vật chất hoặc tinh thần ngoài lương mà công ty cung cấp cho nhân viên”. Các khoản phúc lợi mà người lao động nhận được rất đa dạng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: quy định của pháp luật, khả năng tài chính của công ty, điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và nhu cầu của người lao động. Trong những năm gần đây, phúc lợi có sự tham gia điều chỉnh của luật pháp và Chính phủ, và sự đòi hỏi của người lao động với phần thù lao tài chính gián tiếp ngày càng tăng lên. Phúc lợi bao gồm: phúc lợi bắt buộc theo quy định Nhà nước và phúc lợi tự nguyện 17 - Phúc lợi bắt buộc: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 3 loại chính bất kỳ một công ty nào cũng phải đăng ký cho nhân viên để đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu.
+Theo giáo trình Bảo hiểm – NXB ĐH Kinh tế quốc dân, bảo hiểm xã hội (BHXH) được định nghĩa rất chi tiết và cụ thể: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội” +Bảo hiểm y tế (BHYT) là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của pháp luật (định nghĩa theo: tổ chức Bảo hiểm xã hội). Người lao động có BHYT được phát thẻ và sổ, có thể đến khám chữa bệnh tại các bệnh viện, phòng khám địa phương hoặc ngoài địa phương nếu có đăng ký. +Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là bảo hiểm chi trả cho người lao động khi người lao động bị mất việc làm và chưa tìm được việc làm mới. Theo định nghĩa trong giáo trình Bảo hiểm (NXB ĐH KTQD): ‘BHTN là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường lao động mới’ - Phúc lợi tự nguyện là tất cả những phần thù lao khác ngoài phúc lợi bắt buộc mà công ty cung cấp cho người lao động.
Tùy thuộc vào mỗi công ty sẽ có các phúc lợi tự nguyện khác nhau và có các khái niệm khác nhau về phúc lợi. Một số loại phúc lợi tự nguyện như: các phúc lợi về bảo hiểm, tiền trả cho những thời gian không làm việc, phúc lợi do lịch làm việc linh hoạt, dịch vụ giải trí thể thao văn hóa, các dịch vụ tài chính cho nhân viên… 1.2: Nội dung các hoạt động phúc lợi trong các doanh nghiệp, tổ chức Phúc lợi bao gồm 2 phần chính: phúc lợi theo luật pháp quy định để đảm bảo mức sống cho người lao động và phúc lợi do công ty tự nguyện áp dụng thể hiện sự 18 quan tâm của doanh nghiệp đến đời sống người lao động, có tác dụng kích thích người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Phúc l i nhân viên Phúc l i b t bu c Phúc l i t nguy n BHXH BHYT BHTN Các Ti n tr L ch D ch D ch lo i cho th i làm v v tài b o gian vi c gi i chính hi m không linh trí làm vi c ho t Sơ đồ 1.2: Các loại phúc lợi trong các doanh nghiệp, tổ chức (Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực – NXB ĐH KTQD) 1.1: Phúc lợi bắt buộc Là các khoản phúc lợi tối thiểu mà các tổ chức phải đưa ra theo yêu cầu của pháp luật. Phúc lợi bắt buộc có thể là: các loại bảo đảm, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
Pháp luật đưa ra những quy định về phúc lợi bảo đảm nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động, giúp họ yên tâm công tác. Phúc lợi bắt buộc gồm 5 chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động: trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất.1: Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia theo đúng quy định của Nhà nước. Bất kỳ một công ty có đăng ký hoạt động kinh doanh, sau khi nhân viên kết thúc thời gian thử việc sẽ phải đăng ký bảo hiểm xã hội cho nhân viên đó.
19 - Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập. Mục tiêu này đã được ILO cụ thể hóa như sau: + Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ; + Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật; + Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em. Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10-12-1948 rằng “ Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con người”. - Bảo hiểm xã hội có các chức năng chủ yếu sau: + Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH. - Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH.
Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp. Như vậy theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc…Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
20 - Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khỏe mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được người chủ sử dụng lao động trả công. Khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa.
Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc và nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động của công ty. - Gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội.
Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, phúc lợi và thời gian lao động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hòa và giải quyết. Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho người lao động. Vì người sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp có thuê mướn lao động. Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với người lao động mà mình sử dụng theo đúng pháp luật quy định.