CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỦY LỢI NỘI ĐỒNG 1.Tổng quan kết quả nghiên cứu về xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng ở trên thế giới Việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) thuỷ lợi tiên tiến được biết đến như một cuộc cách mạng hiện đại hoá thuỷ lợi. Một hệ thống thuỷ lợi hiện đại khi đảm bảo cung cấp dịch vụ tưới tốt cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời còn đảm bảo được các mục tiêu bảo vệ môi trường, phân phối nước an toàn và vận hành một cách kinh tế. Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) định nghĩa về hiện đại hóa hệ thống thủy lợi: “Hiện đại hoá các hệ thống thủy lợi là một quá trình nâng cấp về kỹ thuật và quản lý cho các hệ thống thuỷ lợi với mục tiêu là cải thiện việc sử dụng các nguồn nhân lực, nước, kinh tế và môi trường cũng như dịch vụ phân phối nước tới người sử dụng nước”. Theo Burt and Styles (1999), hiện đại hóa hệ thống thủy lợi là một quá trình thay đổi phương thức phân phối nước, bao gồm sự thay đổi về thể chế, tổ chức và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước.
Từ những định nghĩa này cho thấy hiện đại hóa hệ thống công trình thủy lợi không chỉ cần quan tâm đến nâng cấp về mặt công trình (phần cứng) mà còn cần cải thiện công tác quản lý vận hành (phần mềm). Nhiều nghiên cứu của các nước đã chỉ ra xu hướng áp dụng KHCN hiện đaị hoá hệ thống thủy lợi tập trung nâng cao việc cung cấp dịch vụ cho người dân. Hiện đại hoá các hệ thống tưới có thể được xem là hoạt động nâng cấp hoặc cải thiện năng lực của hệ thống để cung cấp đầy đủ yêu cầu nước hiện tại và đáp ứng nhu cầu cho tương lai. Hiện đại hoá cũng được xem là một qúa trình cải thiện về quản lý và kỹ thuật hệ thống tưới với mục tiêu cải thiện việc sử dụng nguồn lực như lao động, nước, kinh tế và môi trường và dịch vụ cung cấp nước nội đồng.
Quá trình này liên quan đến những thay đổi về công nghệ, tổ chức và thể chế. Mục tiêu là cải thiện - 12 - dịch vụ tưới cho người dân mặc dầu cải tiến vận hành kênh sẽ là bước quan trọng đầu tiên trong quá trình hiện đại hoá, do vậy thuật ngữ “hiện đại hoá” đề cập không chỉ về phục hồi nâng cấp hoặc chuyển giao công trình trong hệ thống tưới mà còn đề cập đến sự biến đổi về quản lý vận hành hệ thống. Năm 2005, Tây Ban Nha đã tiến hành một chương trình quốc gia về nâng cấp và hiện đại hoá hệ thống thuỷ lợi (The Spanish Programme of Improvement and Modernization of Traditional Irrigation Systems). Nội dung của chương trình này bao gồm: (i) nâng cấp hệ thống chuyển nước từ kênh hở thành hệ thống đường ống nhằm giảm thiểu tồn thất và tăng hiệu quả phân phối nước; (ii) nâng cấp hệ thống tưới mặt ruộng từ tưới ngập thành tưới phun mưa hoặc tưới nhỏ giọt; (iii) nâng cấp và bổ sung các hạng mục công trình phục vụ công tác quản lý và điều tiết nước: các cống điều tiết, các công trình đong đo nước; (iv) áp dụng công nghệ mới như công nghệ tự động hoá, hệ thống thông tin địa lý.
Chương trình đã làm tăng hiệu quả sử dụng nước lên 10% (từ 60% lên 70%). Hệ thống thuỷ lợi Beni Ebeid (Ai Cập) đã được hiện đại hoá bằng các biện pháp: (i) cải tiến hệ thống kênh nhánh và kênh nội đồng và các công trình trên kênh, (ii) sử dụng hình thức cửa van tự động điều khiển mực nước hạ lưu (AVIO và AVIS) nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu dùng nước của nông dân, (iii) chuyển từ hình thức tưới luân phiên sang hình thức tưới liên tục nhằm đáp ứng yêu cầu dùng nước một cách linh hoạt, (iv) hình thành các tổ chức sử dụng nước (WUA), (v) tổ chức đào tạo cho các nhân viên quản lý hệ thống. Việc hiện đại hoá đã mang lại hiệu quả: tiết kiệm đất (2% trên tổng diện tích canh tác) thông qua việc cải tiến hệ thống phân phối nước nội đồng, tăng năng suất nông nghiệp từ 5 đến 30%. Nhật Bản, nước công nghiệp tiên tiến bậc nhất trên thế giới hiện nay, đã kinh qua nhiều giai đoạn phát triển nông nghiệp với cấu trúc đồng ruộng khác nhau.
Vào những năm 1903 của thời kỳ Minh Trị, cải cách ruộng đất được tiến hành, người nông dân được chia ruộng và sau đại chiến thế giới thứ II với sự phát triển của cơ giới, các chương trình kiến thiết lại đông ruộng được tiến hành. Việc dồn ô đổi thửa diễn ra thuật lợi thông qua các dự án kiến thiết lại đồng ruộng. Hệ thống đồng ruộng - 13 - này tạo điều kiện nâng cao cơ giới hoá, nâng cao năng xuất lao động và sử dụng đất đai. Ngày nay ở Nhật diện tích mỗi ô thửa có đường cho xe cơ giới, và kênh tưới và kênh tiêu riêng biệt rộng xấp xỉ 1 ha.
Việc dồn ô đổi thửa diễn ra thuận lợi thông qua các dự án kiến thiết lại đồng ruộng. Vào thời kỳ này mỗi cánh đồng kích thước 200mx600m có đường nội đồng cho xe cơ giới 3-5 m, kênh tưới và kênh tiêu cấp và tiêu thoát nước trực tiếp cho các thửa ruộng 30mx100m. Chiều dài thửa ruộng thường được xác định sao cho việc phân bố và tiêu thoát nước trên thửa ruộng được đồng đều còn chiều rộng được xác đinh trên cơ sở diện tích của hộ. Nhờ việc kiến thiết này chủ ruộng thực hiện việc tưới tiêu, canh tác trên thửa ruộng của họ mà không làm cản trở việc canh tác trên các thửa ruộng liền kề.
Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Inđonesia đã và đang hiện đại hoá hệ thống thuỷ lợi nội đồng theo hướng hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Ở Trung Quốc thông qua các dự án kiến thiết lại đồng ruộng các thửa ruộng được xây dựng lại có kích thước 0,2 ha (100x20 m), 0,24 ha (80x30 m) và 0,20 ha (80x25 m). Các thửa ruộng được tưới tiêu tách biệt với hệ thống kênh mặt ruộng cấp và thoát nước cho mỗi thửa. Từ năm 1990, Trung Quốc đã tiến hành hiện đại hoá hàng loạt hệ thống thuỷ lợi với một số nội dung chính như: (i) kiên cố hoá kênh mương; (ii) xây dựng và nâng cấp hệ thống điều tiết nước và các thiết bị quan trắc; (iii) cải tổ tổ chức quản lý các hệ thống.
Ở Hàn Quốc một trong những mục tiêu gần đây của chương trình kiến thiết lại đồng ruộng là đa dạng hoá cây trồng (Ruộng lúa mà cây trồng cạn được phát triển một cách tương hợp với cây lúa) và hệ thống canh tác lúa đầu tư thấp, hiệu quả cao. Các chương trình kiến thiết đồng ruộng, tạo điều kiện cơ giới hoá canh tác, hoàn thiện cơ cấu vùng nông thôn và hợp lý hoá việc quản lý trang trại thông qua các dự án như điều chỉnh lại ruộng đất, xây dựng đường nông thôn, hệ thống tưới tiêu. Tiêu chuẩn thiết kế đồng ruộng được áp dụng từ năm 1980 đến nay là diện tích thửa 0.5 ha, chiều rộng đường 2. Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước.
Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất - 14 - và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào xây dựng làng mới. Ở Thái Lan hệ thống kênh nội đồng được xây dựng cách nhau 400-500 m, vuông góc với kênh dẫn, với chiều dài 1-2 km. Một số công trình chia nước, cống điều tiết được xây dựng, không có hệ thống tiêu nước mặt ruộng. Việc nâng cao thâm canh đa dạng hoá cây trồng đòi hỏi hoàn thiện hơn công tác quản lý phân phối nước.
Năm 1970 chương trình kiết thiết củng cố đồng ruộng (land consolidation) được xâp nhập vào Thái Lan. Trong chương trình phát triển theo chiều rộng không phải san lại ruộng. Công trình kênh tưới, tiêu và đường canh tác chỉ được xây dựng dọc theo bờ của thửa ruộng sao cho việc tiếp xúc của chúng với bờ thửa ruộng một cách thích hợp. Trong chương trình phát triển theo chiều sâu, các công việc điều chỉnh ô thửa liên quan đến điều chỉnh vị trí thửa ruộng, san đất, xây dựng kênh tưới tiêu và đường canh tác được thực hiện sao cho mỗi thửa ruộng đều có tiếp xúc với kênh tưới, kênh tiêu và đường.
Hiện nay chương trình phát triển theo chiều rộng ở Thái Lan dường như phù hợp hơn vì vấn đề vốn đầu tư có hạn.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu về xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng ở nước ta. Hệ thống thủy lợi Việt Nam đã trải qua quá trình phát triển lâu dài mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần nâng cao sản lượng lương thực hàng năm một cách bền vững và chất lượng cuộc sống của người nông dân ngày càng được cải thiện nhưng điều đó không có nghĩa là nền nông nghiệp của nước ta không có những hạn chế. Theo nghiên cứu của các nhà chuyên môn, sản xuất nông nghiệp ở Việt nam hiện nay vẫn tồn tại hai vấn đề cơ bản là (i) sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và (ii) các hệ thống thuỷ nông nội đồng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tiêu và phù hợp với xu hướng hiện đại hoá, công nghiệp hoá nông nghiệp. Nguyên nhân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đất đai thường xuất hiện từ nhiều vấn đề, như lịch sử, địa hình, tăng trưởng dân số,.
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách quản lý ruộng đất, nhu cầu sản xuất của nông dân, mục đích sản - 15 - xuất, các dự án qui hoạch thuỷ nông nội đồng và cơ sở hạ tầng nông thôn và thậm chí là do kế thừa (Bentley, 1987; Đoàn Doãn Tuấn, 2005). Trong đó, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do quá trình phân chia ruộng đất và chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở nước ta.