Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương II: Cở sở lý luận cơ bản về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển Chương III: Phân tích thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển tại Công ty TNHH Savino Del Bene Việt Nam Chương IV: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ Logistics bằng đường biển của Công ty TNHH Savino Del Bene Việt Nam 8 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát về dịch vụ logistics bằng đường biển 2. Khái niệm về dịch vụ logistics bằng đường biển Dịch vụ logistics bằng đường biển là một loại hình dịch vụ logistics. Theo Điều 233, Luật Thương mại 2005, Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thủ lao.
Còn vận tải đường biển là hình thức vận chuyển hàng hóa sử dụng phương tiện và cơ sở hạ tầng đường biển để phục vụ cho mục đích vận chuyển. Phương tiện thường dùng sẽ là các tàu thủy và phương tiện xếp, tháo gỡ hàng hóa như xe cần cẩu… Cơ sở hạ tầng để phục vụ cho vận tải đường biển bao gồm các cảng biển, các cảng trung chuyển… Từ hai khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics bằng đường biển như sau: “Dịch vụ logistics bằng đường biển là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, lưu kho, lưu bãi tại các cảng biển, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo thỏa thuận với khách hàng để hướng thủ lao” 2. Đặc điểm dịch vụ logistics bằng đường biển Dịch vụ logistics đường biển là một bộ phận của dịch vụ vậy nên nó bao gồm tất cả những đặc điểm cơ bản của dịch vụ như sau: ● Tính vô hình: Dịch vụ giao nhận vận chuyển hàng hóa có tính vô hình bởi vì các chủ hàng, người sử dụng dịch vụ không nhìn thấy, cân đo, đong đếm được như các sản phẩm hữu hình. Chỉ khi sử dụng dịch vụ rồi thì khách hàng mới có thể thấy 1 được chất lượng dịch vụ thông qua các tiêu thức như: thời gian vận chuyển, quy trình thủ tục có đúng quy cách.
● Tính không lưu trữ: Dịch vụ giao nhận chỉ có thể được cung ứng khi xuất hiện nhu cầu của khách hàng. Khách hàng yêu cầu cần sử dụng những dịch vụ nào thì những dịch vụ đó sẽ được cung cấp nên nó không có khả năng tồn kho. ● Tính không chuyển quyền sở hữu: Khi khách hàng mua dịch vụ giao nhận vận tải thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Do đó, dịch vụ giao nhận vận tải được thực hiện cùng các dịch vụ như: vận chuyển, bảo quản, bốc xếp hàng hóa,.
thì khách hàng chỉ nhận được kết quả là hàng hóa được di chuyển đến đích, chứ khách hàng không được chuyển giao quyền sở hữu với phương tiện, công cụ vận tải. ● Tính thay đổi: Được thể hiện ở việc dịch vụ giao nhận không giống nhau giữa các lần sử dụng, dù là cùng một nhân viên giao nhận, cùng một nhà cung cấp hay cùng một loại dịch vụ. Do thời điểm và thời gian sử dụng dịch vụ khác nhau. ● Tính thích ứng: Do đặc điểm của dịch vụ có tính vô hình nên luôn dễ dàng thay đổi để phù hợp với từng nhu cầu của khách hàng dù là nhỏ nhất.
Vai trò của dịch vụ logistics bằng đường biển Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của hàng hóa bằng đường biển: Dịch vụ logistics là dịch vụ không thể thiếu trong quy trình nghiệp vụ xuất nhập khẩu bằng đường biển. Nếu quá trình vận tải bằng đường biển được tối ưu về thời gian và có mức độ đáp ứng thì dòng hàng hóa hàng hóa di chuyển liên giữa các quốc gia sẽ trôi chảy, chất lượng của chuỗi cung ứng những hàng hóa đó cũng sẽ tăng lên. Giảm thiểu chi phí kinh doanh tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp: Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển vẫn đang là một phương thức chiếm tỉ trọng lớn so với các loại hình khác. Vì vậy, nếu chi phí dịch vụ logistics bằng đường biển bao gồm các chi phí vận tải bằng đường biển, đóng gói, dự trữ, thông quan và quản lý được tối ưu thì sẽ có lợi ích rất lớn.
Doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng phương thức xuất nhập khẩu bằng đường biển hơn các loại hình khác. Mặt khác, giảm thiểu chi phí vận tải theo giúp giảm chi phí đầu vào của các hàng hóa, dịch vụ, giúp các doanh nghiệp giảm bớt áp lực cạnh tranh về giá cả, từ đó công đầy mạnh thương mại quốc 2 gia. Như vậy, thông qua tối ưu logistics thương mại sẽ cải thiện được tình hình xuất nhập khẩu. Mở rộng thị trường thương mại quốc tế: Điều dễ thấy và điển hình quốc tế vẫn chiếm ưu thế trong các và là phương thức chính ở một số quốc gia.
Vì vậy, dịch vụ logistics đường biển đóng một vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng thị trường thương mại đa quốc gia. Dịch vụ logistics bằng đường biển tốt sẽ là chìa khóa để đưa dòng hàng hóa đến những quốc gia và vùng lãnh thổ mới. Hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển 2. Các thành phần tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển Các thành phần tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển bao gồm: Người gửi hàng, Người nhận hàng, Người vận tải, Chính phủ và Công chúng.
Những đối tượng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được thể hiện như sơ đồ sau: Hình 2. Sơ đồ các thành phần tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển (Nguồn:Phát triển từ An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2018) 3 Người gửi hàng (shipper): Là cá nhân hoặc tổ chức yêu cầu vận chuyển hàng hóa đến một địa điểm xác định trong thời gian nhất định. Họ chịu trách nhiệm chuẩn bị, hoàn tất các thủ tục cần thiết và đảm bảo hàng hóa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trước khi giao cho đơn vị vận chuyển. Người nhận hàng (consignee): Là người mong muốn nhận hàng hóa tại đúng địa điểm và thời gian đã cam kết, đồng thời đảm bảo số lượng, chất lượng và loại hàng phù hợp với các điều kiện trong hợp đồng đã được thỏa thuận với người gửi hàng.
- Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics (Freight forwarder): Người giao nhận là trung gian phối hợp việc sắp xếp vận chuyển đối với bên gửi hàng, bên nhận hàng và người vận tải. Người giao nhận có nhiệm vụ kết nối ba thành phần trên bằng việc cung cấp kịp thời những thông tin về cước phí, hạch toán hóa đơn và theo dõi quá trình chuyên chở. Nếu doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm hoặc nguồn lực nhân sự quản lý vận chuyển hàng hóa và có tần suất vận chuyển không lớn thì có thể dựa vào dịch vụ của người giao nhận để tìm kiếm những nhà vận tải thích hợp. Chính phủ (government): Là cơ quan quản lý cơ sở hạ tầng giao thông và đầu tư vào hệ thống bến cảng, điểm dừng đỗ phương tiện.
Các quy định và chính sách của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và độ an toàn trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Công chúng (public): Bao gồm những cá nhân và tổ chức có quan tâm đến hoạt động vận chuyển và giao thông nói chung, bởi lẽ việc vận chuyển hàng hóa có tác động đến chi phí, môi trường và an toàn xã hội. Các bước thực hiện hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển • Hệ thống cung ứng dịch vụ logistics Tương tự như mọi doanh nghiệp dịch vụ, doanh nghiệp logistics phải xây dựng cho mình hệ thống sáng tạo và cung ứng dịch vụ logistics (servuction) để tạo ra và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Các vấn đề về chất lượng cung ứng dịch vụ logistics đều xuất phát từ việc tổ chức hiệu quả hệ thống servuction này.
Dưới đây là môi hình về quá trình cung ứng dịch vụ logistics của doanh nghiệp: 4 Hình 2. Quá trình cung ứng dịch vụ logistics của doanh nghiệp (Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự (2018) Tại một doanh nghiệp logistics, hệ thống vận hành là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố vô hình và hữu hình, trong đó yếu tố con người và vật chất đan xen để tạo ra dịch vụ chất lượng. Mỗi thành phần trong hệ thống đều có mối liên kết chặt chẽ và tác động qua lại, tạo nên sự ảnh hưởng lẫn nhau và góp phần vào sự thành công chung. Dưới đây là các yếu tố cụ thể cấu thành nên hệ thống này: Doanh nghiệp khách hàng: Là những doanh nghiệp, tổ chức trực tiếp sử dụng dịch vụ logistics.
Do khách hàng ở đây không phải khách hàng cá nhân nên chất lượng dịch vụ logistics được đánh giá ít bị ảnh hưởng bởi tâm lý chủ quan. Thay vào đó, hoạt động đánh giá được thực hiện dựa trên hệ thống các chỉ tiêu. Khách hàng có thể tùy chỉnh dịch vụ để phù hợp với các yêu cầu riêng biệt của họ. Ngoài ra, các doanh nghiệp khách hàng cũng có tương tác với nhau, thông qua cạnh tranh mua và tác động vào giá, chất lượng của hệ thống cung ứng tại doanh nghiệp logistics.
Dịch vụ logistics: vừa là kết quả và vừa là mục tiêu của hệ thống. Dịch vụ logistics bị chi phối chặt chẽ bởi cấu trúc và mức chất lượng dịch vụ logistics mà doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng. Trong đó, cấu trúc dịch vụ sẽ quyết định đến sự hình thành các quá trình cung ứng cụ thể và thể hiện năng lực, trình độ quản lý của doanh nghiệp. Nhân viên giao tiếp dịch vụ: Là những nhân viên được trực tiếp tiếp xúc và làm việc với khách hàng khi ký kết hợp đồng và trong suốt quá trình cung ứng dịch vụ.
Đó đó, họ có tác động lớn tới sự hài lòng của đại diện mua hàng. Những nhân viên giao tiếp dịch vụ này có thể là người lái xe, thủ kho, người bán hàng, nhân viên 5 20 giao nhận.