Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Phần đầu tập trung nêu ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, xác lập và tuyên bố mục tiêu nghiên cứu, đề ra phương pháp nghiên cứu; xây dựng đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển Trong đó, chương 2 hệ thống một số lý luận về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển, quy trình, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển, làm cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển tại công ty TNHH Nguyên Đăng Việt Nam. Chương 3: Phân tích thực trạng của hoạt động cung ứng dịch vụ logistics đường biển của công ty TNHH Nguyên Đăng Việt Nam Nội dung chương 3 bao gồm giới thiệu về Công ty TNHH Nguyên Đăng Việt Nam, đánh giá hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty dựa trên những cơ sở lý luận đã đưa ra ở chương 2, từ đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động này. Chương 4: Đề xuất giải pháp đối với hoạt động cung ứng dịch vụ logistics đường biển của công ty TNHH Nguyên Đăng Việt Nam Chương 4 đưa ra xu hướng phát triển của ngành dịch vụ logistics Việt Nam và định hướng về hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian tới.
Từ đó, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát về dịch vụ logistics bằng đường biển 2. Khái niệm và vai trò của dịch vụ logistics đường biển 2.
Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics đường biển (a) Khái niệm về logistics Thuật ngữ “logistics” có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ “logistikos”, nghĩa là kỹ năng tính toán. Ban đầu, thuật ngữ này sử dụng trong lĩnh vực quân sự, gọi là “hậu cần”, nghĩa là cung cấp những thứ cần thiết từ hậu phương ra tiền tuyến. Từ điển tiếng anh Oxford định nghĩa logistics là một lĩnh vực của khoa học quân sự liên quan đến việc mua sắm, duy trì và vận chuyển vật tư, người và phương tiện. Cũng có rất nhiều định nghĩa về logistics được ra đời, tổng kết lại logistics có thể được khái quát một cách toàn diện như sau: Logistics được hiểu là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
(b) Khái niệm về dịch vụ logistics đường biển Dịch vụ logistics bằng đường biển là một loại hình thuộc dịch vụ logistics.Theo cách gọi trước đây, trong Luật Thương mại năm 1997 của Việt Nam gọi dịch vụ logistics là dịch vụ giao nhận hàng hóa và được quy định như sau: “Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó, người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người người nhận hàng theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng)”. Khái niệm dịch vụ logistics được chính thức hóa trong Luật thương mại năm 2005 (Điều 233) và nghị định 140/2007 NĐ-CP, quy định: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, trong đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Còn Vận tải đường biển được hiểu là một hình thức vận tải có liên quan đến việc sử dụng kết cấu hạ tầng và phương tiện vận tải biển, sử dụng các cảng biển, các máy móc hỗ trợ bốc xếp trên cảng và kết nối các tuyến vận chuyển hàng hóa giữa các quốc gia trên biển… để phục vụ việc dịch chuyển hàng hóa trên những tuyến đường biển. Từ hai khái niệm trên có thể suy ra khái niệm về dịch vụ logistics bằng đường biển như sau: Dịch vụ logistics bằng đường biển là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, lưu kho, lưu bãi tại các cảng biển, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Vai trò của dịch vụ logistics bằng đường biển Dịch vụ logistics bằng đường biển có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối. Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trên thị trường thương mại quốc tế. Mà vận tải bằng đường biển đang là phương thức vận tải tiết kiệm chi phí nhất trong tất cả các loại hình vận tải, bởi vì vận tải đường biển có thể vận chuyển được rất nhiều hàng hóa vì tận dụng được tính lợi thế về quy mô.
Ngoài ra vận tải đường biển là hình thức vận chuyển trên tuyến đường tự nhiên trên các đại dương nên cũng không mất những chi phí đường xá, do đó sẽ tiết kiệm được khá nhiều chi phí. Dịch vụ logistics đường biển góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận. Dịch vụ logistics bằng đường biển là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thông thường bởi vì đa số các hoạt động giao thương trên thế giới đều có sự tham gia của vận tải đường biển. Và hiện nay các công ty giao nhận đa số đều cung cấp dịch vụ logistics bằng đường biển kết hợp với những phương thức vận tải khác và các hoạt động logistics trọn gói để cung cấp cho khách hàng dịch vụ tốt nhất, tiện lợi nhất.
Logistics bằng đường biển phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nen trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics bằng đường biển có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra.
Dịch vụ logistics bằng đường biển phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh của các doanh nghiệp. Dịch vụ logistics bằng đường biển phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế. Thực tế, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD.
Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọng gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ logistics bằng đường biển đã tiêu chuẩn hóa các loại chứng từ, loại bỏ rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, từ đó giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế. Phân loại dịch vụ logistics bằng đường biển Dịch vụ logistics bằng đường biển là dịch vụ logistics liên quan đến các dòng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển. Dựa trên phân chia của dịch vụ logistics, dịch vụ logistics bằng đường biển bao gồm: Dịch vụ bốc xếp hàng hóa (nguyên container và lẻ container); Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa; Dịch vụ đại lý vận tải; Dịch vụ hỗ trợ vận tải biển khác (dịch vụ về thủ tục hải quan, dịch vụ đóng gói mới, sửa chữa tàu biển,…); Dịch vụ vận tải đường biển.
Để phục vụ cho mục tiêu thuê ngoài dịch vụ logistics, có thể phân biệt các doanh nghiệp logistics dựa vào các tiêu thức khác nhau. Năng lực cung cấp dịch vụ là yếu tố được quan tâm hàng đầu khi lựa chọn và chia doanh nghiệp logistics thành các nhóm sau: Logistics bên thứ nhất hay logistics tự cung ứng (1PL - First PartyLogistics): Chỉ những người sở hữu hàng hóa trong chuỗi cung ứng tựmình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp. Các công ty 1PL có thể sở hữu phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ, các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Trường hợp không sở hữu các tài sản cần thiết, công ty có thể thuê ngoài thiết bị hoặc toàn bộ các hoạt động logistics.
Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): là những doanh nghiệp có khả năng cung cấp những dịch vụ logistics đơn lẻ cho khách hàng nhưng chưa tích hợp được nhiều dịch vụ với nhau (chỉ đảm nhận mộtkhâu hoặc rất ít khâu trong chuỗi logistics). Thực chất, doanh nghiệp 2PL chỉ tập trung vào các dịch vụ truyền thống như vận tải, kho hàng, thủ tụchải quan, thanh toán… Do chỉ có khả năng cung ứng các dịch vụ đơn lẻ nên hiệu quả chi phí của loại hình này thường không cao. Nguồn lực về vốn và trình độ quản lý có hạn nên khả năng phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ hẹp. Trong thực tế, 2PL thường là người vận chuyển như hãng tàu, hãng hàng không, hãng xe tải.
Họ thường sở hữu và sử dụng phương tiện vận tải chuyên dụng để phục vụ cho công việc vận chuyển đặc thù.