CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VÀ SỰ THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG 1. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Dịch vụ là những công việc, quy trình và những hoạt động mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tiếp xúc nhau nhằm thoả mãn mong đợi của khách hàng.
Dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và xu hướng ngày càng có một tỷ trọng lớn trong GDP của nền kinh tế, đặc biệt là các nước phát triển. Ở Mỹ, vào 2005 tỷ trọng này là 53.2% và ngành dịch vụ đã chiếm 71% lượng nhân viên, 91% việc làm mới từ 1992-2005. Tuy nhiên, tỷ trọng dịch vụ trong GDP của nền kinh tế Việt Nam không cao và liên tục sút giảm từ 1995 đến năm 2003, dịch vụ chỉ chiếm 38% GDP. Do vậy việc đẩy nhanh phát triển của ngành dịch vụ ở Việt Nam là rất cần thiết (xem phụ lục 1).
Khi định nghĩa về chất lượng dịch vụ, Parasuraman & ctg. đã cho rằng: Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng về những tiện ích mà dịch vụ sẽ mang lại cho họ và nhận thức, cảm nhận của họ về kết quả họ có được sau khi đã sử dụng qua dịch vụ đó. Đây có thể được xem là một khái niệm tổng quát bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ, đồng thời cũng chính xác nhất khi 21 xem xét chất lượng dịch vụ đứng trên quan điểm khách hàng, xem khách hàng là trọng tâm. Parasuraman & ctg [II.8] đã có những nghiên cứu về chất lượng dịch vụ trong ngành tiếp thị rất chi tiết và cụ thể.
Họ đã đưa ra mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ. Trong 5 khoảng cách này, khoảng cách 5 chính là mục tiêu cần nghiên cứu vì nó xác định được mức độ thoả mãn của khách hàng khi họ nhận biết được mức độ khác biệt giữa dịch vụ kỳ vọng và dịch vụ nhận được. - Khoảng cách thứ 1 (Khoảng cách khách hàng): khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và cảm nhận của nhà quản trị về kỳ vọng này. - Khoảng cách thứ 2 xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng dịch vụ.
- Khoảng cách thứ 3 xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định. Trong các ngành dịch vụ, sự tiếp xúc của nhân viên với khách hàng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng, nhưng nhiều khi các nhân viên này lại không thực hiện theo đúng những gì đã được đề ra. - Khoảng cách thứ 4 xuất hiện khi những kỳ vọng của khách hàng có thể gia tăng thông qua những gì mà họ được hứa hẹn, được nhìn thấy trên quảng cáo, áp phích…nhưng lại không giống những gì mà họ nhận được từ nhà cung cấp dịch vụ. - Khoảng cách thứ 5 xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng của khách hàng và chất lượng họ cảm nhận được.
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ 5 này. Khi khách hàng cảm thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ, thì chất lượng của dịch vụ được xem như hoàn hảo. Parasurama & ctg cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ 5, khoảng cách thứ 5 này lại phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó. Như vậy để 22 rút ngắn khoảng cách thứ 5 tức là làm tăng chất lượng dịch vụ thì các nhà quản trị dịch vụ phải tìm mọi cách để nổ lực rút ngắn các khoảng cách này.1: Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasurama Dịch vụ kỳ vọng KHÁCH HÀNG Khoảng cách 5 Dịch vụ cảm nhận Khoảng cách 4 Khoảng cách 1 Dịch vụ chuyển giao Thông tin đến khách hàng Khoảng cách 3 NHÀ TIẾP THỊ Chuyển đổi cảm nhận của công ty thành tiêu chí chất lượng Khoảng cách 2 Nhận thức của Công ty về kỳ vọng của khách hàng Nguồn: Trích từ Parasuraman & ctg.
[1985:44] Mô hình nêu trên đã mô tả khá tổng quát về chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên có thể đánh giá chất lượng dịch vụ được cảm nhận bởi khách hàng một cách cụ thể, các nhà nghiên cứu sau nhiều lần nghiên cứu và kiểm định đã đưa ra một thang đo chất lượng dịch vụ gồm 5 thành phần sau: 1- Tin cậy (reliability): Nó được thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. 23 2- Đáp ứng (responsiveness): Nó thể hiện sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. 3- Năng lực phục vụ (assurance): Thể hiện qua trình độ chuyên môn và phong cách phục vụ lịch sự niềm nở với khách hàng.
4- Đồng cảm (empathy): Thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng. 5- Phương tiện hữu hình (tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của khách hàng Nói đến chất lượng dịch vụ, thường nhiều người cho rằng đó cũng chính là mức độ thoả mãn của khách hàng. Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm khác đánh giá về sự thoả mãn của khách hàng.
Bechelet định nghĩa sự thoả mãn của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hay dịch vụ. Còn Philip Kotler cũng cho rằng sự thoả mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó. Theo đó, sự thoả mãn có 3 cấp độ như sau: - Nếu mức độ nhận được của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không hài lòng. - Nếu mức độ nhận được của khách hàng bằng kỳ vọng thì khách hàng hài lòng.
- Nếu mức độ nhận được của khách hàng lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng sẽ thích thú. Có thể thấy rằng sự thoả mãn của khách hàng và chất lượng dịch vụ là hai khái niệm khác biệt. Sự thoả mãn của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói 24 lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ. Mô hình chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng được trình bày trong phụ lục 2A.
Khái niệm chất lượng dịch vụ Giao nhận vận tải đường biển và sự phát triển dịch vụ Giao nhận vận tải 1. Khái niệm Chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải đường biển Chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải đường biển là sự đáp ứng của dịch vụ giao nhận vận tải đường biển đối với sự mong đợi của các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ giao nhận vận tải. Nói cách khác đó chính là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng sử dụng dịch vụ Giao nhận vận tải đường biển về những kết quả mà họ nhận được sau khi dịch vụ Giao nhận vận tải đường biển hoàn thành. Quy trình giao nhận vận tải biển gồm các bước: 1.
Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng về dịch vụ giao nhận vận tải biển 2. Thực hiện thủ tục giao nhận hàng hóa 3. Vận chuyển nội địa, lưu kho 4. Vận chuyển quốc tế 6.
Các dịch vụ đi kèm: Đóng gói, bảo hiểm, giám định, ngân hàng, tư vấn về thị trường xuất nhập khẩu… Chuỗi giá trị của SOTRANS được trình bày trong phụ lục 2B 25 1. Sự phát triển lĩnh vực Giao nhận vận tải biển ở Việt Nam: Cùng với sự phát triển của ngành dịch vụ giao nhận vận tải thế giới, quan điểm về chất lượng dịch vụ giao nhận vận tải cũng có những thay đổi nhất định: Trong thập niên 1980, sự phát triển của hoạt động Giao nhận Vận tải được đánh dấu rõ rệt nhất. Xuất phát từ yêu cầu tiết kiệm chi phí và cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải chuyên nghiệp, các nhà chuyên chở tập trung mọi khả năng để cạnh tranh giá cước giao nhận vận tải & nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, dịch vụ giá trị gia tăng. Các nhà Giao nhận vận tải đã đưa ra những cách thức mới như lên hoá đơn và kiểm tra cước tự động, dùng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI để hỗ trợ việc sử dụng hoá đơn điện tử không sử dụng giấy, tìm kiếm hàng hoá, tự tra cứu và tính cước, theo dõi các khiếu nại, thanh toán cước… Trong thập niên 1990, nhu cầu về dịch vụ Giao nhận vận tải chuyên nghiệp tăng lên.
Nguyên nhân là do các doanh nghiệp trong giai đoạn này muốn cắt giảm chi phí, thời gian phân phối hàng hoá, nâng cao chất lượng hoạt động mà không phải tốn nhiều chi phí đầu tư cũng như chịu rủi ro cho việc đầu tư đó. Một nguyên nhân nữa là sự ra đời của nhiều công ty đa quốc gia, có các nhà máy đặt khắp nơi trên thế giới. Việc lắp ráp các nhà máy này lại với nhau đã hình thành nên Dây chuyền cung ứng, là yếu tố thúc đẩy mở rộng dịch vụ Giao nhận vận tải, đặt biệt là giao nhận vận tải đường biển. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, dịch vụ Giao nhận vận tải ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng: 26 - Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu.
- Có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hoá chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh. - Có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo giao hàng đúng thời gian địa điểm (just in time). CÁC LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ THOẢ MÃN CỦA KHÁCH HÀNG 1. Các lý thuyết đánh giá chất lượng dịch vụ Có nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới nhằm đưa được định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ Lehtinen và Lehtinen [II.6] cho rằng chất lượng dịch vụ được đánh giá trên 2 mặt quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ.