chương I. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỀN HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG NGHỆ | 2. Thực trạng quy định của pháp luật về dịch vụ vận tái hành khách công nghệ ở Việt Nam 2. Quy định của pháp luật về dịch vụ vận tải hành khách công nghệ ở Việt Nam Những ứng dụng của kinh tế chia sẻ đang thâm nhập ngày càng sâu vào đời sống xã hội và nền kinh tế toàn cầu như một phần tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.
Là thị trường có tốc độ tiếp nhận và thích nghỉ công nghệ tương đối cao ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là những công nghệ liên quan đến nền kinh tế số không đòi hỏi chỉ phí cao về đầu tư và sử dụng, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên trong ASEAN cho phép thí điểm mô hình kinh doanh ứng dụng dịch vụ công nghệ kết nối vận tải từ năm 2014. Sau hơn 2 năm thí điểm, dịch vụ Uber, Grab đã đem lại một trải nghiệm hết sức tích cực và hoàn toàn mới cho người dùng và đội ngũ lái xe, đồng thời cũng tạo sự cạnh tranh và sức ép cần thiết lên các doanh nghiệp taxi theo mô hình kinh doanh truyền thống để đổi mới phương thức quản lý, đây mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tiết kiệm chỉ phí, nâng cao chất lượng dịch vụ, v. Nhìn từ góc độ kinh doanh vận tải, mô hình GrabCar là một loại mô hình đầu tư kinh doanh có điều kiện, thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục 4 theo chỉ dẫn của Khoản 2 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014. Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư 2014 chỉ rõ: “1.
Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động dau tu kinh doanh trong ngành, nghé đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xố hội, sức khỏe của cộng đồng. na Với quan điểm của Chính phủ là ủng hộ, khuyến khích ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ và mô hình kinh doanh sáng tạo, hiệu quả tại Việt Nam, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đã linh hoạt vận 3: Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư 2014. 15 dụng khuôn khổ pháp lý hiện hành để tạo điều kiện cho việc thí điểm ứng dụng dịch vụ công nghệ kết nối vận tải. Ngày 7/1/2016, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành Quyết định số 24/QD-BGTVT ban hành kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng.
Theo Quyết định số 24/QD-BGTVT: “J. Doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia thí Điểm phải chấp hành day đủ các quy định của Nghị định 86/2014/NĐ-CP ,Thông tư 63/2014/TT-BGTVT các quy định pháp luật khác có liên quan và quy định tại Quyết định này.” Vi vậy, hoạt động của Uber, Grab sẽ chịu sự điều chỉnh pháp lý của Nghị định 86/2014/NĐ-CP quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và Thông tư 63/2014/TT-BGTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động kinh doanh của Uber, Grab vẫn đang được xác định là mô hình kinh doanh dịch vụ công nghệ chứ không phải kinh doanh vận tải. Nếu mỗi hãng xe tổ chức gọi xe của hãng mình như Grab thì sẽ chỉ là tổng đài của họ.
Em Nhưng với Grab taxi thì có 2 phần: - Thứ nhất là sự kết hợp chặt chẽ giữa phần mềm công nghệ thông tin và kinh doanh taxi, là sự hợp tác kinh doanh, là một mô hình kinh doanh. - Thứ hai, đang được cả Grab và Uber trực tiếp tổ chức kinh doanh và kết nối với cá nhân, không qua doanh nghiệp dịch vụ vận chuyển hành khách theo hợp đồng. Vì vậy, mô hình kinh doanh này không hắn là dịch vụ kinh doanh taxi, cũng không hắn là dịch vụ vận tài hành khách theo hợp đồng, theo cách phân loại hiện nay tại Nghị định số 86/2014/NĐ-CP. Khoản 1 Điều 7 Nghi định 86/2014/NĐ-CP quy định về Kinh doanh vận tải hành khác theo ho đồng như sau: “/.
Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp dong là kinh doanh vận tải không theo tuyến có định và được thực hiện theo hợp đồng vận tải bằng văn bản giữa đơn vị kinh doanh vận tải và người thuê vận tải. ”> Theo đó, hoạt động kinh doanh của Grab phải đáp ứng được các điều kiện hoạt động theo các điều kiện quy định tại Điều 13 Nghị định này: *: Tiểu mục IV.I Kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng. : Khoản 1 Điều 7 Nghị định 86/2014/NĐ-CP quy định về kinh doanh và điều kiện kinh đoạnh vận tai băng xe 6 tô. Điều kiện chung kinh doanh vận tải bằng xe 6 16 Don vị kinh doanh vận tải phải có du các điều kiện sau đây: 1.
Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật. Phương tiện phải bảo đảm số lượng, chất lượng phù hợp với hình thức kinh doanh, cụ thể: a) Khi hoạt động kinh doanh vận tải phải có du số lượng phương tiện theo phương án kinh doanh đã được duyệt; phương tiện phải thuộc quyền sở hữu của don vị kinh doanh vận tải hoặc quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng của đơn vị kinh doanh vận tải với tổ chức cho thuê tai chính hoặc tổ chức, cá nhân có chức năng cho thuê tài sản theo quy định của pháp luật. Trường hợp xe đăng ký thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã phải có hợp dong dich vụ giữa thành viên với hợp tác xã, trong đó quy định hợp tác xã có quyên, trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý, sử dụng, điều hành xe ô tô thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã; b) Xe ô tô phải bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; c) Xe phải được gắn thiết bị giảm sát hành trình theo quy định tại Điều 14 Nghị định này. Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe: a) Lái xe không phải là người đang trong thời gian bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật; b) Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe phải có hợp đồng lao động bằng văn bản với đơn vị kinh doanh vận tải theo mẫu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (trie các trường hợp dong thời làchủ hộ kinh doanh hoặc là bổ, mẹ, vợ, chong hoặc con của chủ hộ kinh doanh); c) Nhân viên phục vụ trên xe phải được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định của pháp luật đối với hoạt động vận tải theo quy định của Bộ Giao thông vận tải.
Nhân viên phục vụ trên xe vận tải khách du lịch còn phải được tập huấn về nghiệp vụ đu lịch theo quy định của pháp luật liên quan về du lịch. Người điều hành vận tải phải có trình độ chuyên môn về vận tải từ trung cập trở lên hoặc có trình độ từ cao đăng trở lên đôi với các chuyên ngành kinh tê, kỹ thuật khác và có thời gian công tác liên tục tại đơn vị vận tải từ 03 năm trở lên. Nơi đỗ xe: Đơn vị kinh doanh vận tải phải có nơi đỗ xe phù hợp với phương án kinh doanh và dam bảo các yêu cầu về an toàn giao thông, phòng chong cháy, nỗ va vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật. Về tổ chức, quản ly: a) Đơn vị kinh doanh vận tải có phương tiện thuộc diện bắt buộc phải sắn thiết bị giám sát hành trình của xe phải trang bị máy tính, đường truyền két noi mạng và phải theo dõi, xử lý thông tin tiếp nhận từ thiết bị giám sát hành trình của xe; b) Đơn vị kinh doanh vận tải bố trí đủ số lượng lái xe theo phương án kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe cho lái xe và sử dụng lái xe đủ sức khỏe theo quy định; đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách có trọng tải thiết kế từ 30 chỗ ngôi trở lên (bao gôm cả chỗ ngôi, chỗ đứng và giường nằm) phải có nhân viên phục vụ trên xe (Irừ xe hợp đông đưa đón cán bộ, công nhân viên, học sinh, sinh viên đi làm, đi học và xe buýt có thiết bị thay thé nhân viên phục vụ) ”.
Điều 13 Nghị định 86/2014/NĐ-CP quy định khá chỉ tiết về các điều kiện hoạt động, quyền và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cũng như bản thân tài xế. Thứ nhất, về điều kiện kinh doanh: Grab, Uber cần dang ky kinh doanh van tai bang 6 tô theo quy định của pháp luật (về trình tự, thủ tục, tên gọi, ngành nghề kinh doanh,. Khi kinh doanh, số lượng và chất lượng phương tiện phải được đảm bảo, phù hợp: “Khi hoạt động kinh doanh vận tải phải có đủ số lượng phương tiện theo phương án kinh doanh đã được duyệt; phương tiện phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị kinh doanh vận tải hoặc quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng của đơn vị kinh doanh vận tải với tô chức cho thuê tài chính hoặc tổ chức, cá nhân có chức năng cho thuê tài sản theo quy định của pháp 18 luật. ”ế , các phương tiện phải đảm bảo về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, các xe phải được gan thiệt bị giám sat,.
Thứ hai, điều kiện đôi với lái xe và nhân viên phục vụ trên xe: Lái xe không phải người đang trong thời gian cắm hành nghề. Nhân viên phục vụ trên xe phải được tập huấn về nghiệp vụ theo quy định của pháp luật. Điểm đáng chú ý tại quy định này chính là pháp luật đã chỉ rõ “Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe phải có hợp đồng lao động bằng văn bản với đơn vị kinh doanh vận tải theo mẫu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hoi”. Vay, van dé đặt ra ở đây là giữa các tài xế và Grab, Uber có giao kết hợp đồng lao động theo đúng như quy định trên của pháp luật hay không? Dẫn chiếu tới Điều 44 Thông tư 63/2014/TT-BGTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ: “Điều 44.
Quy định đối với xe ô tô vận tải hành khách theo hợp đồng 1.