Chương 1. TS Phạm Công Đoàn, Giáo trình quản trị học, trang 12). Khái niệm về quản trị rủi ro "Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhắm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biển rủi ro thành những cơ hội thành công” (Đoàn Thị Hồng Vân và ctg, 2013). “Quản trị rủi ro là quá trình nhân dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả rủi ro” (PGS.
TS Trần Văn Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, Trang 28). “Quản trị rủi ro trong tác nghiệp thương mại quốc tế là hệ thống các nghiệp vụ nhăm nhân dạng, đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong quá trình tiến hành các tác nghiệp thương mại quốc tế” (PGS TS Doãn Kế Bôn, 2010, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Trang 375). Khái niệm quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển là quá trình sử dụng tàu biển để vận chuyển hàng hóa theo tuyến đường có định hoặc không có định từ nước này tới nước khác. Theo nghĩa rộng văn chuyển hàng hóa quốc tế là sự tập hợp các yếu tổ kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác, chuyên chở bằng tàu biển một cách có hiệu quả hàng hóa.
Vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển thường được tiến hành thông qua các doanh nghiệp, tổ chức chuyên ngành thực hiện. Nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là một phần trong quy trình vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, là quá trình mà hàng hóa từ nước ngoài được vận chuyển qua đường biển và sau đó được đưa vào cảng để thông quan và bàn giao cho 9 người nhận hàng. Quá trình này thường bao gồm các bước như vận chuyển, làm thủ tục hải quan, và giao nhận tại cảng. Khái niệm về quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển là hệ thống các nghiệp vụ nhằm nhận dạng, phân tích, đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong quá trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển.
Quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bảng đường biên không chỉ đơn thuần là nhân dạng rủi ro mà quan trọng hơn là phải đánh giá được mức độ nguy hiểm và đưa ra các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang đến trong từng nghiệp vụ từ lúc tiếp nhận yêu cầu của khách hàng đến khi giao hàng cho khách hàng. Quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển Quá trình người giao nhận theo sự ủy thác của chủ hàng lo liệu việc nhập khẩu hàng hóa quốc tế bằng đường biển được diễn ra qua các bước sau: Bước 1: Nắm tình hình hàng hóa và phương tiện vận tải Người giao nhận cần phối hợp người nhận hàng (người nhập khẩu) nắm tình hình phương tiện vận tải hoặc tiến hành lưu cước, đăng ký chuyến phương tiện vận tải + Trường hợp đã có hợp đồng với người chuyên chở thực tế, người giao nhận cần liên lạc với hãng vận chuyển để biết lịch trình của phương tiện vận chuyển có thay đổi gì không. + Trường hợp cần lưu cước (Booking note) với hãng tàu chợ do người nhập khẩu là người chịu trách nhiệm vận chuyển quốc tế (Incoterms nhóm E và F), người giao nhận sẽ nhận thông tin về nhu cầu vận chuyển của khách hàng, sau đó sắp xếp và báo giá phương án vận chuyển phù hợp với nhu cầu của người nhập (khách hàng) để từ đó đi tới thống nhất và ký hợp đồng vận chuyển. Sau khi ký hợp đồng vận tải, chủ hàng tự mình hoặc thông qua người giao nhận để đăng ký lưu khoang (booking note) với hãng tàu.
Bước 2: Chuẩn bị chứng từ nhận hàng nhập khẩu 10 Người giao nhận nhận pre-alert và bản chụp chứng từ từ đại lý nước ngoài, in chứng từ ra, Kiểm tra đối chiếu MBL và HBL các chi tiết có khớp nhau không (POL, POD, Container/Seal, Shipping mark, Description of goods, G. Nếu có khác biệt giữa MBL và HBL thì viết mail báo ngay cho đại lý, yêu cầu họ kiểm tra xem chi tiết trên MBL đúng hay HBL đúng và chỉnh sửa bill để nộp Manifest. Luu ý Place of Delivery có thể khác nhau giữa HBL & MBL, khi đó công ty giao nhận sẽ phụ trách chuyển hàng từ Place of Delivery trên MBL đến Place of Delivery trên HBL. Trước ngày tàu đến hãng tàu hoặc Co-loader sẽ gửi giấy báo hàng đến (Arrival notice), Trên A/N mà hãng tàu hay Co-loader gửi thường có thông báo số cước và các Local charges phải nộp.
Kiểm tra xem tiền cước Collect có khớp với Pre-alert của đại lý không. Dựa trên A/N của hãng vận chuyển để gửi A/N cho khách hàng. Nắm tình hình hoặc thay mặt chủ hàng mang vận đơn gốc và giấy giới thiệu đến hãng vận chuyển để lấy lệnh giao hàng (D/O) và đóng lệ phí. Người nhập khẩu chuẩn bị các chứng từ phục vụ cho việc khai báo và thông quan hải quan như hợp đồng, hóa đơn, phiếu đóng gói, vận đơn gốc, chứng nhận hun trùng, chứng nhận kiểm dịch, chứng nhận xuất xứ.
Trường hợp thanh toán bằng hình hình thức chuyển khoản thì bộ chứng từ hàng hóa, gồm vận đơn được gửi trực tiếp từ người xuất khẩu sang người nhập khẩu. Trường hợp thanh toán bằng hình thức nhờ thu hoặc thư tín dụng, bộ chứng từ được gửi về qua ngân hàng. Người nhập khẩu cần hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán tiền để được giải phóng bộ chứng từ. Lưu ý, với vận đơn theo lệnh cần yêu cầu ngân hàng ký hậu vào vận đơn mới lấy được hàng hóa.
Bước 3: Nhận hàng hóa tại địa điểm quy định Người giao nhận phối hợp cùng với người nhận hàng/người nhập khẩu để thực hiện các công việc sau: + Khai báo và thông quan hàng hóa xuất khẩu: Người giao nhận có thể khai báo dưới tên của chủ hàng hoặc dưới tên chính mình (đại lý khai báo hải quan). Nếu hàng hóa bị phân vào luồng đỏ cần phối hợp với cán bộ hải quan để kiểm tra thực tế hàng hóa; 11 + Tiến hành kiểm nghiệm, giám định nếu cần và lấy giấy chứng nhận hay biên bản thích hợp; + Nhận hàng nhập khẩu từ người vận chuyển thực tế. Đối với hàng đóng trong container, gửi hàng nguyên (FCL/FCL): + Mang D/O cùng bộ chứng từ nhận hàng đến Văn phòng quản lý tại cảng để xác nhận D/O đồng thời mang 1 bản D/O đến Hải quan giám sát cũng để đối chiếu với Manifest. + Đến bãi và tìm vị trí container + Đến phòng Điều độ của cảng nộp phí lưu kho, phí xếp dỡ container, nộp biên lai thanh toán các phí này cùng với D/O để đổi lấy phiếu xuất kho cho phép hàng rời khỏi cảng.
+ Trường hợp mang container về kho riêng để kiểm hóa và rút hàng thì cần làm đơn gửi hãng tàu để mượn container về kho riêng, yêu cầu xếp container lên phương tiện vận tải. Sau khi rút hàng xong, người giao nhận bố trí mang container về trả tại cảng. + Trường hợp dỡ hàng trong container ngay tại cảng thì phải có lệnh điều động công nhân để đỡ hàng khỏi container và xếp hàng lên phương tiện vận chuyển. + Hoàn tất việc nhận hàng nếu trong quá trình kiểm hóa không có vấn đề gì về hàng hóa và hồ sơ khai báo hải quan.
Vận chuyển hàng hóa bằng container có tính chuyên dụng cao nên khi giao nhận nhận container cũng tiến hành đơn giản hơn nhưng vẫn cần lưu ý kiểm tra: số hiệu của container phải rõ ràng; niêm phong kẹp chỉ phải còn nguyên vẹn và phù hợp với bảng kê khai hàng hóa (manifest); tình trạng của vỏ container phải trong điều kiện bình thường, không bẹp, méo, không thùng, cong vênh. Khi phát hiện những tình trạng hư hỏng cần lập biên bản tại chỗ và có chữ ký xác nhận của người chuyên chở hoặc đại diện người chuyên chở. Đối với hàng đóng trong container, gửi hàng lẻ (LCL/LCL): + Mang vận đơn gốc hoặc vận đơn gom hàng đến hãng tàu hoặc đại lý của người gom hàng lấy D/O. Sau khi xác nhận, đối chiếu D/O thì mang đến thủ kho để nhận phiếu xuất kho.
Sau đó mang chứng tử đến kho CFS để nhận hàng. Bước 4: Quyết toán chi phí 12 Sau khi nhận hàng hóa, người giao nhận quyết toán chi phí với các nhà cung cấp và người nhập khẩu các chi phí như cước vận chuyển (nếu có), local charge tại đầu nhập khẩu, phí hoa hồng cho đại lý nước ngoài và các chi phí khác. Thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán và việc thống nhất gửi hóa đơn gốc tùy thuộc vào thống nhất giữa người giao nhận với các nhà cung cấp và người nhập khẩu. Nội dung quản trị rủi ro trong quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển 2.
Nhận dạng rủi ro “Nhận dạng rủi ro là quá trình xác nhận một cách liên tục và có hệ thống các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” (Chương 2, PGS. Bìa Hữu Đức, Giáo trình quản trị rủi ro, trang 37, trường Đại học Thương Mại). Nhận dạng rủi ro nhằm tìm kiếm các thông tin về: + Các loại rủi ro có thể xuất hiện + Các mối nguy (hay mỗi nguy hại, mỗi nguy hiểm) + Thời điểm xuất hiện rủi ro Nhận dạng rủi ro là giai đoạn đầu tiên trong quy trình quản trị rủi ro của doanh nghiệp, vì vậy nó có vai trò quan trọng, là cơ sở, tiền đề để triển khai có hiệu quá các bước tiếp theo trong quy trình quản trị rủi ro. Các phương pháp nhận dạng rủi ro bao gồm: Phân tích báo cáo tài chính: Phân tích bàng tổng kết tài sản, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích từng tài khoản chi tiết các khoản chi phí và lợi nhuận và đổi chiều với kế hoạch tài chính được thiết lập đầu năm tài chính để có được những số liệu, nhân đình về rủi ro.
Trên cơ sở đó có thể xác định mời nguy cơ rủi ro của tổ chức về tài sản, nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý. Đây là phương pháp khách quan có độ tin cậy nhưng khó áp dụng tại nhiều doanh nghiệp đòi hỏi nhân sự quản trị rủi ro phải có năng lực và kỹ năng tốt về rủi ro, tổn thất.