Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thanh tra thuế Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA THUẾ 1. Cơ sở lý luận về thuế và thanh tra thuế 1. Khái quát về thuế 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế Thuế ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước.
Từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện. Theo các nhà kinh điển: “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” [20]. ểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau: Thuế là khoản trích nộp bằng tiền. Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây.
Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. Thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước. Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận.
Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. Thuế là khoản thu có tính chất xác định. Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương.
Trái ngược với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp. Thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng. Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế.
Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họ cũng không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này [6]. Tóm lại, đánh thuế là một đặc quyền chỉ thuộc về Nhà nước và thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong đời sống xã hội.
Nhà nước dùng thuế phân phối thu nhập xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Trong xã hội dân chủ, mặc dù không nhận đối giá trực tiếp từ số tiền thuế nhưng dân chúng cũng nhận được một cách gián tiếp thông qua lợi ích từ chi công. Do đó, ngoài việc thu thuế thật tế nhị mà minh bạch, Chính phủ cần phải công bố rõ ràng chương trình hành động của mình và tăng cường giáo dục ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế ngay từ bậc tiểu học. Như vậy, dân chúng mới ý thức được sự cần thiết của thuế, mới xem nộp thuế là một việc làm tự nhiên và cần thiết cho cuộc sống cộng đồng [6].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế có 3 vai trò cơ bản, đó là: đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; vai trò phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã hội và vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Như vậy, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗi quốc gia đó.
Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế - xã hộ , thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết [6]. Một số vấn đề cơ bản về thanh tra thuế 1. Khái niệm cơ bản về thanh tra thuế Thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội [5].
Thanh tra thuế là một trong các chức năng cơ bản của cơ quan quản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho doanh nghiệp luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Những điểm giống nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế: - Về mục đích: phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế. - Về cách thức tiến hành: xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phân tích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật về thuế. - Về nội dung: đều xem xét doanh thu, chi phí, lợi nhuận.
- Về phương pháp: đều phải phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý dữ liệu, tính toán lại và xác minh. Những điểm khác nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế là: - Về đối tượng: Thanh tra áp dụng cho các đối tượng có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, hoặc để giải quyết khiếu nại tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ Trưởng Bộ Tài chính. Còn kiểm tra thuế thì áp dụng cho các đối tượng có ngành nghề kinh doanh hẹp hơn, phạm vi kinh doanh nhỏ. - Về phạm vi nội dung: thanh tra thường là nội dung rộng, phức tạp, có thể liên quan đến nhiều đối tượng, lĩnh vực khác nhau.
Còn kiểm tra thường đơn giản và dễ dàng nhận thấy. Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ có ý nghĩa tương đối vì trên thực tế có những vụ kiểm tra thường đơn giản và dễ dàng nhận thấy. Bởi vậy, một vấn đề thuộc về kiểm tra hay thanh tra cần căn cứ vào nội dung vụ việc cụ thể để xác định. - Về biện pháp áp dụng: thanh tra được áp dụng các biện pháp mạnh hơn như: tạm giữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất dấu tang vật, tài liệu - theo quy định của Luật quản lý thuế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 - Về hình thức tổ chức: Đoàn có thể tổ chức thành các tổ để đi sâu vào từng nội dung thanh tra. Còn kiểm tra thuế thì tổ chức kiểm tra hạn chế đối với một số chỉ tiêu nhất định. - Về thời gian: Thanh tra thường là không quá 30 ngày, kiểm tra thường không quá 5 ngày. Đặc điểm cơ bản của hoạt động thanh tra đối tượng nộp thuế Thanh tra là một tổ chức trong hệ thống tổ chức của thanh tra nhà nước, đồng thời là tổ chức cấu thành trong bộ máy quản lý của ngành Tài chính, thanh tra tài chính nói chung và thanh tra thuế nói riêng là một công cụ quản lý tài chính có hiệu lực, đảm bảo cho phép luật, các chính sách chế độ và kế hoạch ngân sách nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh.
Tuy nhiên cũng có những đặc điểm riêng khác với thanh tra chuyên ngành khác như: thanh tra hải quan, thanh tra giá, thanh tra Kho bạc… ở chỗ: đối tượng thanh tra thuế rất rộng về phạm vi và lĩnh vực. Có thể nói hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cơ sở và cá nhân trên mọi lĩnh vực, ngành nghề đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế và đều là đối tượng quản lý thu thuế [20]. Mặt khác, do sự vận hành của cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nên hoạt động thanh tra đối tượng nộp thuế vừa phải đối mặt với nhiều cám dỗ, cạm bẫy dễ sa ngã đồng thời phải đối đầu với sức ép áp lực khác nhau thậm trí ảnh hưởng đến danh dự và tính mạng của người làm công tác thanh tra.