Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Hải Dương Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Hải Dương. 9 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về nợ thuế và phân loại tiền thuế nợ 1. Một số khái niệm a) Khái niệm thuế “Thuế là hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với các hiện tượng kinh tế - xã hội” gắn với mỗi giai đoạn khác nhau. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhà nước.
Bằng quyền lực của mình, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội. Quan hệ thu - nộp những nguồn vật chất này chính là thuế. Ở Việt Nam, thuế bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ đầu chế độ phong kiến (thuế thân, thuế muối, thuế thổ trạch,. Đến khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Nhà nước đã xóa bỏ hệ thống thuế phi nhân đạo, dần dần thiết lập một hệ thống thuế mới và ngày càng đi vào ổn định, hoàn thiện.
Để đưa ra một khái niệm về thuế có tính tổng quát, tác giả đã nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Theo Các Mác, “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước” [3. Bằng cách tiếp cận khác, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng “thuế là một hình thức phân phối thu nhập tài chính của nhà nước để thực hiện các chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại” [8. Theo cách tiếp cận của các nhà kinh tế hiện đại thì thuế được định nghĩa là “một hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng” [2.,13] Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các 10 thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đổi khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng.
Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều lý do khác nhau, người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thời hạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợ thuế. b) Khái niệm nợ thuế Mặc dù thuế là khoản thu mang tính bắt buộc, tuy nhiên trong thực tế vì nhiều lý do khác nhau mà người nộp thuế chưa nộp, nộp chưa đúng mức cần thu hoặc không nộp cho Nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành nên khoản nợ thuế.
Theo QĐ số 1401/QĐ-TCT ngày 28/07/2015 về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế của Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế, có nêu rõ khái niệm: Nợ thuế: Là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, tiền chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định trên mà chưa nộp vào NSNN. Trong khái niệm “nợ thuế” cần hiểu rõ về một số thuật ngữ như người nợ thuế, mức nợ thuế, thời điểm bắt đầu tính nợ, thời điểm kết thúc tính nợ,.Những thuật ngữ này đều được định nghĩa rõ ràng trong Mục III của QĐ số 1401/QĐ-TCT ngày 28/07/2015. Người nợ thuế: Là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ Tiền thuế đang chờ điều chỉnh là: các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật mà người nộp thuế (NNT) đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền; chứng từ luân chuyển 11 chậm hoặc thất lạc; chờ ghi thu - ghi chi; tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưng chưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng mà cơ quan thuế đang điều chỉnh theo đúng quy định; tiền thuế không tính tiền chậm nộp. Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ (ngày thanh toán) là ngày khoản nợ được nộp vào NSNN; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác. Khoản nợ là số tiền thuế bắt đầu được tính nợ hay được gọi là bắt đầu phát sinh tiền thuế nợ. Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm kết thúc tính nợ, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật. Khoá sổ thuế là thời điểm ngừng nhập các chứng từ kế toán liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT như tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế, các quyết định, thông báo.
Sau khi khoá sổ thuế, mọi số liệu trên Sổ theo dõi thu nộp thuế các tháng trước sẽ không được điều chỉnh, bổ sung ngay, mà chỉ được điều chỉnh, bổ sung sau ngày khoá sổ và sẽ được hạch toán vào thời điểm phát hiện để điều chỉnh, bổ sung vào kỳ thuế tiếp theo. Xác định nợ thuế (sau đây gọi là chốt nợ) là việc rà soát, đối chiếu số liệu tiền thuế nợ của tháng báo cáo sau khi khóa sổ thuế, đảm bảo mọi số liệu nợ trên sổ theo dõi nợ thuế, báo cáo nợ thuế thống nhất và không được thay đổi sau khi xác định nợ thuế. Phân loại tiền thuế nợ a) Đặc điểm của nợ thuế Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuy nhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thể nhân hay pháp nhân trong nền kinh tế. Nói cách khác, thuế là một hình thức phân phối 12 thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước.
Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế. Vì vậy, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế. Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế theo đúng pháp luật. Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội.
Hay nói cách khác, những người nộp thuế luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp. Một trong các cách đó là nợ thuế. Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế.
Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế. Nợ thuế chƣa hẳn là hành vi trốn thuế Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của ĐTNT bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN. Còn nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật. Tất nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế.
Chẳng hạn như, một số doanh nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. 13 Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế. Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật mà là hành vi lợi dụng những điểm yếu trong pháp luật về thuế để làm lợi cho mình. Tránh thuế xuất phát từ những nhược điểm trong hệ thống pháp luật về thuế của quốc gia, vì vậy quản lý và phát hiện tránh thuế có ý nghĩa cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung pháp luật thuế.
Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn về bản chất, đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp cho các cơ quan thu thuế. b) Phân loại nợ thuế Phân loại nợ thuế là công tác cần thiết giúp việc quản lý nợ thuế đạt hiệu quả. Để việc đôn đốc, thu hồi nợ đạt kết quả cao thì nợ thuế phải được phân loại một cách cụ thể rõ ràng để cán bộ quản lý thuế sử dụng các biện pháp thu hồi nợ phù hợp.