CHƯƠNG 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ NO VA CUONG CHE NO THUE 1. Những van đề ly luận về Quản ly nợ thuế 1. Khái niệm nợ thuế va Quản lý nợ thuế Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh răng thuế ra đời là một tất yêu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nha nước.
Dé duy tri sự tồn tại của mình, nhà nước cần có nguồn tài chính dé chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bố máy cai trị từ trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà nhà nước đó cai quản; chi cho các công việc ban đầu thuộc chức năng của nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng: chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, vé sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài. Thuế là nguồn thu chính và chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức cá nhân phia có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.
Tuy nhiên, đững ở một góc độ nào đó, sự tuân thủ pháp luật còn hạn chế ở một số các tổ chức, cá nhân hiện nay do nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế của mình chưa cao, cá biệt còn có một số người nộp thuế cố tình dây dưa, chiếm dụng tiền thuế và cũng đã lợi dụng một số kẽ hở của luật thuế, dùng mọi thủ đoạn để gian lân, trốn thuế, nợ thuế gây ra tốn thất cho ngân sách nhà nước. Trước hết, khái niệm “nợ” nói chung là “một thuật ngữ được dùng dé dàm chỉ một nghĩa vụ mà một chủ thể (con nợ hay người mắc nợ) phái thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện trong hiện tại hoặc trong tương lại đối với một chủ thé khác (chủ nợ)” [17, tr. Thuật ngữ “nợ” chủ yếu được sử dụng dé nói về các nghĩa vụ tài sản mà một chủ thể phải thực hiện trong các giao dịch dân sự, thương mại như trong các quan hệ vay, mượn tài sản, mua bán hàng hóa. No là một phan của tổng tài sản mà người mượn phải trả cho người cho mượn ở một hay nhiều thời điểm trong tương lai.
Tuy nhiên, khi nói đến nợ thuế thì lại không hoàn toàn như vậy. Nợ thuế ở đây không phải là phần tài sản của cá nhân hay tôt chức đã vay mà đó là phan tài sản của cá nhân hay tổ chức (thuộc điện phải đóng thuế theo quy định của pháp luật) phải nộp vào ngân sách nhà nước khi phát sinh nghĩa vụ đó trong quá trình sản xuất kinh doanh theo quy định pháp luật [16, tr.11] Nợ thuế là một phạm trù tất yếu khách quan ton tại cùng với sự ton tại của thuế, khi nào còn thuế thì vẫn còn nợ thuế. Xét ở góc độ hành vi thi nợ thuế là hành vi của người nộp thuế chưa nộp kịp thời số tiền phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật nhưng cũng chưa phải là hành vi trốn thuế hay không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Về phía cơ quan thuế, đây là số tiền phải thu của người nộp thuế theo quy định của pháp luật được Nhà nước giao trách nhiệm thu nhưng chưa thu được.
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩa cụ thuê về “nợ thuế”. Hiến pháp 1992, Điều 80 quy định “Cong dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”. Khoản 3 Điều 7 Luật quản lý thuế năm 2006 sửa đồi bé sung năm 2012 cũng quy định: “Người nộp thuế có nghĩa cụ nộp tiền thuế đây đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm.” Như vậy, nợ thuế có thê hiểu theo nghĩa rộng là nghĩa vụ tài chính phải thực hiện của tổ chức, cá nhân đối với Nhà nước. Thời điểm xác định một chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (có nợ thuế Nhà nước) được tính từ khi sự kiện pháp lý đã được pháp luật dự liệu phát sinh.
Chang hạn, trong pháp luật thuế Giá tri gia tăng quy định “Thời điểm xác định thuế Giá trị Gia tăng đối với hàng hóa là thời điểm chuyên giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dung hàng hóa cho người mua không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Thời điểm xác định thuế giá trị gia răng đối với hàng hóa dịch vụ là thời điểm hoàn thành cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.” Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin được sử dụng khái niệm nợ thuế theo nghĩa hẹp để có cách hiểu thống nhất với các văn bản pháp luật quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam hiện nay. Theo đó, nợ thuế được hiểu là những khoản tiền mà thể nhân hoặc pháp nhân (thuộc đối tượng phải nộp thuế theo quy định của pháp luật) chưa nộp vào ngân sách nhà nước khi đã quá hạn nộp thuế theo quy định của từng sắc thuế. Khoản tiền mà cơ quan thuế chưa thu được theo quy định được gọi là “tiền thuế nợ”: là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào ngân sách nhà nước.
Trong quá trình quản lý thuế, ngoài việc thu đúng thu đủ các khoản thuế đến hạn cần phải có các quy định để quản lý các khoản nợ thuế vì nợ thuế là một hiện tượng khách quan. Nói cách khác, dé đảm bảo thu đủ số thuế phải nộp từ người nộp thuế vào ngân sách nhà nước cần phải làm công tác quản lý nợ thuế. Theo đây, quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn déc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế. Để giải quyết và tháo gỡ van dé nợ thuế cần phải thực hiện tốt công tác quản lý nợ thuế.
Trong quá trình quản lý thuế, nợ thuế là hiện tượng không thé tránh khỏi, vi vậy đặt ra yêu cầu, ngoài việc thu đúng thu đủ các khoản thuế đến han cần phải có các quy định dé quản lý các khoản nợ thuế. Nói cách khác, dé đảm báo thu đủ số thuế phảo nộp từ người nộp thuế vào ngân sách nhà nước cần phải làm công tác quản lý nợ thuế. Quản lý nợ thuế có thể coi là khâu cuối cùng, được đánh giá là khâu khó khăn nhất của công tác Quản lý thuế và là công tác trọng tâm hàng đầu của ngành thuế, góp phần tích cực cho việc hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước. Từ khi Luật Quan lý thuế 2006 ra đời và được sửa đổi bổ sung 2012, khâu cải cách hành chính thuế được chú trọng tránh gây khó khăn và gây phiền hà cho người nộp thuế.
Đề cho người nộp thuế chủ động công việc kê khai đăng ký và kê khai nộp thuế theo quy định “ Tự tính, tự khai và tự nộp”. Về tự tính, tự khai thì hầu hết người nộp thuế chấp hành nghiêm chỉnh. Nhưng vấn đề tự nộp thuế theo đúng thời gian quy định trong Luật quản lý thuế thì lại là một van đề nan giải [24, tr. Quản lý nợ thuế là hoạt động của cơ quan thuế nhằm xây dựng và triển khai thực hiện chỉ tiêu về quan ly nợ thuế, thực hiện đôn đốc số tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế.
Có thé phân chia quan lý nợ thuế ở hai cấp độ khác nhau: Đối với cán bộ thuế quản lý nợ thuê bao gồm: xác định đối tượng nợ thuế, phân loại tiền thuế nợ theo tính chất nợ, xác định số tiền thuế còn nợ và thực hiện các bước đôn đốc tiền thuế nợ, thực hiện các nghiệp vụ xử lý nợ thuế như gia hạn nộp thuế, xóa nợ tiền thuế, miễn phạt chậm nộp. Đối với cơ quan thuế quản lý nợ thuế là một quá trình: chỉ đạo, kiểm tra hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về quản lý nợ thuế, xây dựng các chính sách về quản lý nợ thuế, xây dựng đội ngũ cán bộ quan lý nợ thuế, cơ sở vật chất kĩ thuật và một cơ cấu tô chức thích hợp. Phân loại nợ thuế Phân loại nợ thuế là việc phân chia nợ thuế thành các nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Việc phân loại nợ thuế nhằm xác định nguyên nhân, tình trạng của từng khoản nợ thuế, qua đó lựa chọn các biện pháp quản lý thu nợ thuế phù hợp đối với từng người nợ thuế đã phân loại dé đảm bảo thu được các khoản tiền thuế nợ vào NSNN.
10 Việc phân loại nợ thuế được thực hiện căn cứ trên một số tiên thức như sau: * Căn cứ vào đối tượng nợ thuế: Căn cứ vào đối tượng nợ thuế có thể phân chia nợ thuế thành các nhóm: - Nợ thuế của DN nhà nước - Nợ thuế của DN dân doanh - Nợ thuế của DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể - Nợ thuế thu nhập của cá nhân - Nợ thuế của các đối tượng khác * Căn cứ vào sắc thuế: Căn cứ vào tiêu thức này nợ thuế được phân theo các sắc thuế như sau: thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân, thuế GTGT, thuế môn bài, thuế tiêu thụ đặc biệt, thu tiền sử dụng đất, phí, lệ phí, thu tiền phạt, thu khác. * Căn cứ vào tính chất khoản no thué: Hiện nay, các quy định pháp luật về quan lý nợ thuế đang áp dung căn cứ tính chất khoản nợ thuế để phân loại và thực hiện quy trình quản lý nợ thuế. Theo tiêu thức này, nợ thuế được phân thành bốn nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm tiền thuế nợ khó thu bao gồm các trường hợp sau: Tiền thuế nợ của NNT được pháp luật coi là đã chết, mát tích, mắt năng lực hành vi dân sự chưa co hồ sơ dé nghị xoa no.