Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về công tác tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Chương 3: Đánh giá thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty VTC Dịch vụ truyền hình số thời gian qua. Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty VTC Dịch vụ truyền hình số.
12 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình đã được nghiên cứu Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề công tác tạo động lực cho người lao động. Nghiên cứu về công tác tạo động lực cho người lao động trước hết dựa trên cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực.
Công tác tạo động lực cho người lao động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Có rất nhiều học thuyết về tạo động lực cho người lao động cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực. Luận văn của tác giả sẽ kế thừa và vận dụng các cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động để đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Trong chương trình học, có nhiều sách giáo trình đã có các chương riêng viết về tạo động lực lao động như: “Giáo trình quản trị nhân lực”, ThS.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (chủ biên), NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2007); “Giáo trình hành vi tổ chức”, PGS.TS Bùi Anh Tuấn và PGS.TS Phạm Thúy Hương (chủ biên), NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2009). Các giáo trình này đã trình bày khái quát các vấn đề cơ bản liên quan đến tạo động lực lao động, đưa ra các khái niệm, quan điểm khác nhau về tạo động lực lao động và các học thuyết tạo động lực lao động như: các học thuyết về nhu cầu (Maslow, McClelland), học thuyết hai yếu tố của Herzberg, học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom, học thuyết công bằng của J. Stacy Adam, học thuyết tăng cường tích cực của B. Skinner, học thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke.
Các học thuyết này là cơ sở để giải thích các cách thức tiếp cận khác nhau về tạo động lực cho người lao động, từ đó giúp nhà quản lý có được cơ sở để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp cho doanh nghiệp. 13 Trong giáo trình “Quản trị nhân lực”, ThS Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (chủ biên) NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2007). Trong chương VII của giáo trình tác giả đã trình bày về nội dung tạo động lực trong lao động. Ở đây tác giả đã đưa ra khá đầy đủ nội dung về khái niệm động lực lao động và các yếu tố ảnh hưởng tới động lực lao động, các học thuyết tạo động lực trong lao động, các phương hướng tạo động lực trong lao động.
Tuy nhiên, trong phần các phương hướng tạo động lực trong lao động, tác giả chỉ mới giới thiệu qua ba phương hướng tạo động lực cho người lao động đó là: xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc cho nhân viên, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động hoàn thành nhiệm vụ và kích thích lao động, chứ chưa đi sâu chi tiết nội dung từng phương hướng để tạo động lực lao động. Nhưng qua những nội dung đó cũng định hướng được cho độc giả các biện pháp tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp hiện nay. Giáo trình “Hành vi tổ chức”, PGS.TS Bùi Anh Tuấn và PGS.TS Phạm Thúy Hương (chủ biên), NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2009). Trong chương IV của cuốn sách có trình bày về nội dung tạo động lực cho người lao động.
Ở đây tác giả trình bày rất chi tiết khái niệm về động lực của cá nhân trong tổ chức, các học thuyết tạo động lực, đặc biệt trong phần tạo động lực trong các tổ chức ở Việt Nam tác giả đã chỉ rõ những vấn đề đặt ra trong tạo động lực, vận dụng các học thuyết tạo động lực và đưa ra các chương trình quản lý nhằm tạo động lực, qua đó cũng giúp độc giả gợi mở ra được nhiều vấn đề về công tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Ngoài ra, liên quan đến công tác tạo động lực lao động, có một số tài liệu tham khảo đã đề cập khá chi tiết về các nội dụng cụ thể trong công tác tạo động lực cho người lao động như: Giáo trình “Kinh tế nguồn nhân lực” của PGS. TS Trần Xuân Cầu, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2012). Giáo trình “Tâm lý học lao động” của THS.
Lương Văn Úc, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2011). Sách “Phát triển kỹ năng quản trị” của Nguyễn Quốc Tuấn & Nguyễn Thị Loan, Nhà xuất bản tài chính (2008). 14 Công tác tạo động lực cho người lao động có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp nói chung và người lao động nói riêng. Công tác tạo động lực cho người lao động được hoàn thiện sẽ giúp cho người lao động có nhiều sáng kiến, sáng tạo, làm việc hăng say nhằm nâng cao năng suất lao động.
Giúp cho doanh nghiệp duy trì được một đội ngũ lao động giỏi, trung thành và tâm huyết với doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, làm cho các hoạt động khác của doanh nghiệp trở nên thuận lợi hơn, giúp nhà lãnh đạo quản lý dễ hơn, tiết kiệm các chi phí, tránh lãng phí trong lao động. Ngoài ra, công tác tạo động lực còn tạo nên văn hoá của doanh nghiệp, xây dựng quan hệ lao động tốt. Nhận thức được sự cần thiết của vấn đề này nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các học giả đã đi sâu nghiên cứu và có những công trình đóng góp thực tiễn cho các doanh nghiệp cụ thể. Trong đó, nổi bật có một số công trình nghiên cứu sau: Luận án tiến sỹ: “Chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã (nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An)” của Lê Đình Lý (Trường ĐH KTQD, 2012).
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin để nghiên cứu đề tài; Đồng thời sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp sử dụng biểu đồ, phương pháp sử dụng số liệu bằng phần mền SPSS; Để thu thập thông tin cần thiết, luận án sử dụng một số phương pháp thu thập thông tin chủ yếu đó là: phương pháp tổng hợp kế thừa, phương pháp điều tra trực tiếp qua bảng hỏi, phương pháp chuyên gia. Trong nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa có bổ sung lý luận về động lực và chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã. Với cách tiếp cận hệ thống luận án quan niện chính sách tạo động lực là một hệ thống quan điểm, mục tiêu, giải pháp nhằm thúc đẩy, khuyến khích người cán bộ công chức cấp xã tự giác hăng say, nỗ lực làm việc thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tác giả chia chính sách tạo động lực thành hai nhóm: nhóm chính sách thúc đẩy và nhóm chính sách duy trì.
Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích về thực trạng động lực và các chính 15 sách tác động đến động lực của cán bộ công chức cấp xã ở một số cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đánh giá tình hình thực hiện các chính sách tạo động lực, rút ra một số nguyên nhân cơ bản làm giảm động lực làm việc. Tác giả đã chỉ ra một số tồn tại, hạn chế làm giảm động lực làm việc như: (1) chính sách bố trí sử dụng chưa phát huy tốt năng lực, sở trường của từng cán bộ công chức; (2) chính sách đánh giá chưa chú trọng đến thành tích, kết quả công tác và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ công chức; (3) chính sách đào tạo và phát triển chưa tạo được nhiều cơ hội cho cán bộ công chức được đào tạo và phát triển; (4) chính sách khen thưởng chưa căn cứ nhiều vào kết quả và thành tích công tác của cán bộ công chức; (5) chính sách tiền lương chưa căn cứ vào khối lượng và chất lượng công việc thực hiện của cán bộ công chức; (6) điều kiện, môi trường làm việc chưa được quan tâm đúng mức…Những hạn chế và tồn tại của các chính sách nêu trên là những nguyên nhân cơ bản không tạo được động lực làm việc tích cực cho cán bộ công chức. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện một số chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã trong thời gian tới. Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại viện công nghệ thông tin và truyền thông trường Đại học Bách khoa Hà Nội” của Lê Thu Giang (Trường ĐH KTQD, 2012).
Luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng hợp thống kê, phân tích tổng hợp, lựa chọn tối ưu; Đồng thời điều tra, phỏng vấn qua bảng hỏi để phân tích và đánh giá thực trạng công tác tạo động lực tại viện công nghệ thông tin và truyền thông trường Đại học Bách khoa Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động. Trong phần cơ sở lý thuyết tác giả đã chỉ ra bản chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động, làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Tiếp theo, tác giả cũng nêu ra sự cần thiết của việc tạo động lực cho người lao động, đưa ra một số kinh nghiệm tạo động lực ở một số 16 doanh nghiệp; lồng ghép việc vận dụng hai học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow và học thuyết công băng của J.Stacy Adams vào các nội dung tạo động lực như : phân tích công việc và nhiệm vụ rõ ràng, công bằng khách quan trong việc đánh giá và sử dụng kết quả đánh giá, sử dụng các biện pháp kích thích tài chính và tinh thần. Tuy nhiên, việc vận dụng hai học thuyết trên của tác giả để lý giải các nội dụng tạo động lực cho người lao động vẫn chưa đầy đủ và thuyết phục.