Chương 1: Cơ sở lý luận về dự toán ngân sách trong các tổ chức công Chương 2: Thực trạng công tác lập dự toán chi thƣờng xuyên ngân sách sự nghiệp giáo dục của thành phố đà nẵng Chương 3: Hoàn thiện công tác lập dự toán chi thƣờng xuyên ngân sách sự nghiệp giáo dục của thành phố Đà Nẵng 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Có nhiều nghiên cứu về công tác lập dự toán ngân sách trong các doanh nghiệp và tổ chức công, chủ yếu là ở các luận văn thạc sĩ. Có thể tổng quan thành hai hƣớng nghiên cứu nhƣ sau: Hƣớng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào lập dự toán ở các doanh nghiệp. Dự toán ở nhóm này có điểm chung là xuất phát từ nhu cầu thị trƣờng và chiến lƣợc phát triển của các doanh nghiệp.
Một số nghiên cứu mà tác giả đã đọc gồm: Luận văn cao học của tác giả Nguyễn Thị Cúc (2012) “Hoàn thiện công tác lập dự toán tại Viễn Thông Quảng Nam”. Luận văn đã khái quát toàn bộ quá trình lâp dự toán ở một đơn vị có phân cấp quản lý, quá trình lập dự toán đi từ tuyến Trung tâm viễn thống cấp Huyện, thành phố đến Viễn Thông tỉnh trong giai đoạn 2010-2012. Luận văn đã chỉ ra một số hƣớng giải quyết về lập dự toán cƣớc doanh thu và hệ thống báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý có liên quan đến việc lập dự toán. Tuy nhiên, điểm hạn chế của luận văn là chƣa quan tâm đến tính đa dạng trong cách ứng xử chi phí trong ngành viễn thông để có thể đảm bảo dự toán hợp lý nhất.
Luận văn của tác giả Hoàng Thi Thơ (2014) “Công tác lập dự toán tại Công ty TNHH MTV Cảng Đà Nẵng” cũng viết về lập dự toán tại một doanh nghiệp. Ƣu điểm của luận văn là đã khái quát công tác lập dự toán tại một đơn vị dịch vụ có qui mô lớn tại Đà nẵng và đã chỉ ra một số bất cập về tính hợp lý. Tuy nhiên, vấn đề cách ứng xử chi phí vẫn chƣa đƣợc coi trọng trong công 5 tác lập dự toán chi phí. Nhìn chung, hƣớng nghiên cứu này chỉ ra những bất cập trong quá trình lập dự toán, thƣờng bỏ qua cách ứng xử chi phí mà chỉ dựa trên nền tảng của nội dung kinh tế của chi phí.
Cơ sở lý luận hay lý thuyết nền về lập dự toán chƣa đƣợc đề cập đến. Những bất cập về hệ thống định mức – cơ sở của lập dự toán chƣa đƣợc các nghiên cứu bàn luận kỹ. Ở hƣớng nghiên cứu thứ hai, các đề tài tập trung vào dự toán ở khu vực công, có thể là một đơn vị hành chính, hoặc một sở ngành nào đó. Đặc điểm chung của hƣớng nghiên cứu này: dự toán là cơ sở để xác định mức ngân sách cấp hoặc cân đối ngân sách trong một tổ chức nào đó.
Điển hình là luận văn cao học của tác giả Vũ Thị Minh Huyền (2011) “Nghiên cứu công tác lập dự toán ngân sách tại Đài Khí tƣợng thủy văn khu vực Việt Bắc” là một nghiên cứu ở một đơn vị sự nghiệp. Luận văn có ƣu điểm gắn với đặc thù của một đơn vị đƣợc ngân sách cấp phát, nên qui trình lập dự toán phải theo các qui định của Luật ngân sách hiện hành. Tuy nhiên, luận văn cũng vẫn dựa trên nền truyền thống, chƣa chỉ ra những bất cập trong hệ thống định mức hoặc những định hƣớng để lập ngân sách dựa trên kết quả đầu ra. Luận văn của tác giả Nguyễn Đức Thanh (2004) “Nghiên cứu hoàn thiện phƣơng thức lập dự toán ngân sách nhà nƣớc Việt nam” cũng đã khái quát những đặc trƣng trong lập dự toán ở khu vực công.
Tuy nhiên, cơ sở lý thuyết của lập dự toán chƣa đƣợc đề cập nhiều, các vấn đề về lập dự toán theo kết quả đầu ra chƣa đƣợc đề cập. Hạn chế này có thể chấp nhận khi thời điểm nghiên cứu của tác giả, luật ngân sách chƣa đề cập đến điểm này. Tóm lại, các nghiên cứu trên đã khái quát tính đa dạng trong công tác lập dự toán ở các loại tổ chức khác nhau, từ một đơn vị sự nghiệp đến một doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Mỗi nghiên cứu đều có những ƣu điểm riêng và hạn chế nhất định.
Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu 6 nào xem xét việc lập dự toán ngân sách thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo, lĩnh vực đƣợc xem có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Nghiên cứu này do vậy sẽ góp phần nào làm sáng tỏ về cách thức lập dự toán ngân sách sự nghiệp giáo dục ở thành phố Đà Nẵng, qua đó chỉ ra những định hƣớng trong hoàn thiện công tác lập dự toán ngân sách. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH TRONG CÁC TỔ CHỨC CÔNG 1. LẬP DỰ TOÁN - MỘT NỘI DUNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG 1.
Khái niệm Quá trình quản lý của một tổ chức, dù là một doanh nghiệp hay một đơn vị sự nghiệp hay một chính quyền luôn có những nguyên tắc nhất định. Quá trình quản lý thƣờng bắt đầu từ việc hoạch định chiến lƣợc đến việc tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch; kiểm tra đánh giá và ra quyết định. Với quá trình đó, mỗi khâu có những vị trí quan trọng riêng có của nó, trong đó hoạch định có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó vừa là khâu khởi điểm cho một chu trình quản lý, nhƣng đồng thời lại là kết quả một quá trình quản lý trong một thời kỳ.
Biểu hiện của hoạch định dƣới phƣơng diện tài chính công là công tác dự toán ngân sách. Có nhiều định nghĩa khác nhau về dự toán: Dự toán là việc ƣớc tính toàn bộ thu nhập, chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ để đạt đƣợc một mục tiêu nhất định (Trƣơng Bá Thanh, 2008). Dự toán là sự tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu đồng thời chỉ rõ cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực để thực hiện mục tiêu trên. Dự toán là tập hợp các chỉ tiêu đƣợc biểu diễn một cách có hệ thống dƣới dạng số lƣợng và giá trị (Phạm Văn Dƣợc, 2007).
Dự toán là quá trình tính toán chi tiết nhằm chỉ rõ cách huy động vốn và sử dụng vốn cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đƣợc xác định bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lƣợng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tƣơng lai. Thông tin trên dự toán là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận và từng cá nhân trong bộ phận đó. Trên 8 cơ sở đó, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận nhằm phục vụ tốt cho quá trình tổ chức và hoạch định trong doanh nghiệp (Huỳnh Lợi và cộng sự, 2001).
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng chung quy lại, dự toán chính là sự tính toán, dự tính hoạt động của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định trong tƣơng lai. Dự toán không chỉ đề xuất các công việc cần phải thực hiện, mà còn chỉ rõ cách để thực hiện các công việc đó. Trong bối cảnh nguồn lực của bất kỳ tổ chức nào cũng có giới hạn, dự toán không chỉ đƣợc lập cho các doanh nghiệp mà còn áp dụng ở các tổ chức phi lợi nhuận, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các chính quyền địa phƣơng. Điều 4 của Thông tƣ 77/2017/TT-BTC về hƣớng dẫn chế độ kế toán ngân sách cũng đã nêu rõ: đối tƣợng của kế toán ngân sách gồm công tác lập dự toán và tình hình phân bổ dự toán kinh phí các cấp.
Điều 7 của Thông tƣ này cũng qui định rõ nhiệm vụ của kế toán ngân sách gồm có cả dự toán thu và chi ngân sách. Nhƣ vậy, có thể kết luận công tác dự toán không chỉ cần thiết trong các doanh nghiệp mà còn trong các tổ chức công. Dự toán ngân sách là một nội dung không thể thiếu trong công tác kế toán ở chính quyền địa phƣơng. Vai trò của dự toán trong công tác quản lý tài chính công Với khái niệm trên, dự toán có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý ở mọi tổ chức.
Đối với các chính quyền địa phƣơng, dự toán có những vai trò quan trọng nổi bật sau: - Dự toán ngân sách là cơ sở để chính quyền địa phƣơng phân bổ nguồn lực, qua đó thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng đó. - Dự toán ngân sách là cơ sở để các đơn vị sử dụng ngân sách chi tiêu theo kế hoạch đã xây dựng nhằm thực hiện các nhiệm vụ đã đƣợc phân công. Những bất cập trong quá trình sử dụng ngân sách cũng đƣợc phát hiện qua 9 quá trình này, và đó là cơ sở để hoàn thiện xây dựng ngân sách trong thời kỳ tiếp theo. - Dự toán ngân sách là cơ sở để quyết toán ngân sách ở các cấp chính quyền địa phƣơng.
- Dự toán ngân sách là cơ sở để đánh giá việc thực hiện dự toán, từ đó đề xuất hƣớng hoàn thiện công tác lập dự toán cho thời kỳ tiếp theo. CÁC MÔ HÌNH LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH 1. Mô hình thông tin từ trên xuống Quản trị cấp cao Quản trị cấp Quản trị cấp trung gian trung gian Quản trị cấp cơ sở Quản trị cấp cơ Quản trị cấp Quản trị sở cơ sở cấp cơ sở Sơ đồ 1.1: Mô hình thông tin từ trên xuống Mô hình thông tin từ trên xuống là mô hình mà các chỉ tiêu dự toán đƣợc định ra từ ban quản lý cấp cao của tổ chức, sau đó sẽ truyền xuống cấp quản lý trung gian. Sau khi cấp quản lý trung gian tiếp nhận sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở để làm mục tiêu, kế hoạch trong việc tổ chức hoạt động tại từng bộ phận trong tổ chức (Stepphen, 2001).
Mô hình này có những ƣu và hạn chế sau: Ƣu điểm của mô hình là việc lập dự toán ngân sách phù hợp với định hƣớng phát triển mục tiêu của tổ chức trong điều kiện nguồn lực hạn chế. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của mô hình là tính áp đặt và có thể xa rời thực tiễn nếu qui mô của tổ chức quá lớn. Ngƣời quản lý cấp cao hơn thƣờng không có 10 điều kiện nắm bắt thực tế ở mỗi đơn vị cơ sở, do vậy hệ thống định mức, khả năng thực hiện các mục tiêu thông qua dự toán thƣờng không đƣợc đánh giá đầy đủ và trong nhiều trƣờng hợp không thực hiện đƣợc.