Chương 1; Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chỉ thường xuyên ngân xách nhà nước cấp huyện chogiáo dục tại huyện Thanh Oai, thành phổ Hà Nội “Chương 2: ĐặcđiêmđịabànhuyệnThanhOaivàPhương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kếtquảnghiêncứu và thảo luận Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ CHÍ THƯỜNG XUYÊN NSNN CAP HUYỆN CHO GIÁO DUC 1.Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện cho giáo dục 1. Một số khái niệm cơ ban 1. Ngân sách nhà nước ‘Theo Nguyễn Thị Hồng (2015): “NSNN phan ánh hoại động của Nhà nước trênphương diện tai chính.
Trong hệ thống tài chính, NSNN là bộ phan chủ dao, là điềukiện vật chất quan trong để Nhà nước thuec hiện các nhiệm vụ của mình. Mặt khácnó còn là công cu quan trong à nước thực hiện điều tiết vĩ mô nến kinh tế xã hội."(14] Xét theo biểu hi 'bên ngoài, NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chỉ cụ thể và được định hướng các nguồn thu đều được nộp vào một quỳ tid t@goi là quỹ NSNN và cá khoản đều được xuất từ quỹ ấy. Những khoản thunộp về cấp phát qua quỹ NSNN là các quan hệ được xác định trước, được định lượngvà Nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô. nền kinh tế.
Dưới góc độ hình thức,NSNN là một bản dự toán thu và chỉ tài chính hing năm của nhà nước đo Chínhphủ lập ra, đệ trình Quốc hội quyết định và giao cho chính phủ thực hiện. Xét vébin chất kinh tế chứa đựng trong NSNN, những quan hệ tha nộp cấp phát qua quyNSNN là những quan hệ được xác định trước, được định lượng và nhà nước sửdụng chúng dé điều tiết vĩ mô kinh tế xã hội. Các hoạt động thu - chi NNN déuphan ánh những quan hệ kinh giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hộigắn với quá trình tạo lập quản lý và sử dụng quỹ NSNN. ‘Theo Điều 4 luật ngân sách nha nước (2015) quy định: “Ngân sách nha nước là toàn bộ cáckhoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảngthỏi gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định dé đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước ”[1§] 1.
Chỉ ngân sách nhà nước và phân loại chỉ ngân sách nhà nước Chỉ NSNN Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sáchnhà nước nhằm. đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo nhữngnguyên tắc nhat định. Chỉ ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước sử dụng nguồn lực tàichính tập trung để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của minh trong côngviệc cụ thể theo không gian và thời gian nhất định. Chỉ ngân sách nha nước cóquy mô và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, ở nhiều địa phương, ởtất cả các cơ quan công quyền.
Chỉ NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN. Thu NSNN đảm bảo nguồn cho các nhu cầu chỉ NSNN. Ngược lại vốn ngân sách nhà nước để chỉ cho mục tiêu tăng trưởngkinh tế là điều kiện đẻ phát triển và tăng nhanh. nguồn thu của NSN.
Do vậy, việc sử dung vốn, chỉtiêu gan sách nhà nước một cách. m, hiệu qua sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội và tingsin phẩm quốc dân [16]. Hiện nay có nhiều cách phân loại chỉ ngân sách nhà nước: + Căn cứ vào chức năng quản lý của nhà nước chỉ NSNNđược chia thành: Chỉ nghiệp vụ (chi về tiền lương, tiền công, chỉ trợ giá, chitrả nợ); Chỉ phát triển (chỉ phát triển kinh tế nông nghiệp, thương mại, côngnghiệp, giao (hông. các dịch vụ xã hội như giáo dục, văn hóa, y tế.
quản lyhanh chính, an ninh, quốc phỏng.) + Can cứ vào mục dich kinh tế xã hộichỉ ngân sách nhà nước được. chia: Chỉ tieh luỹ (các khoản chỉ đầu tư xây dựng cơ bản, chỉ hỗ trợ doanh. nghiệp, chidy trữ); Chi tiêu dùng (chỉ quản lý hành chính, chỉ sự nghiệp, chỉ khác.) + Cẩn cứ vào tính chất kinh tế của khoản chỉ, chỉ ngân sách nhà nướcđược chia thành: Chỉ thường xuyên: Khoản chỉ tiêu mang tính chat tiêu dùng phục vụcho các hoạt động diễn ra thường xuyên đều đặn, liên tục trong các cơ quanhành chính sự nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước Chỉ đầu tư phát triển: Khoản chỉ có thời han dai, mang tính chất tíchluỹ' như: chỉ xây dựng các công trình thuộc kết hạ tầng được phê chuẳnbằng dự toán ngân sách Nhà nước; công trình mang tính phúc lợi là chínhhoặc không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi với tốc độ chậm, thời gianthu hồi von di chỉ cho công trình trọng điểm qi i Chỉ bổ sung quỹ dự trừ tài chính: Quy dự trữ tài chính được sử dung đếđáp ứng các nhu cầu chỉ khi nguồn thu chưa tập trung kịp và phải hoàn. trảngay trong năm ngân sách.
Vi c trích lập quỹ dự trữ tài chính được thực higndin từng năm, mức khống chế tối đa là 25% dự toán chỉ ngân sách hàng nămcủa cấp tương ứng. Chỉ trả nợ: Các khoản chỉ để nhà nước thục hiện nghĩa vụ trả nợ cáckhoản đã vay khi đến hạn, các khoản nợ trung và dài hạn phải cân đối thụchiện giãn nợ Các khoản chỉ khác. Hiện nay, phân loại chỉ ngân sách nhà nước theo tính chất kinh tổthường được sử Wing rong Quản lý tài chính. Chi thường xuyên ngân sáchnhà nước là một bộ phận của chỉ ngân sách nhà nước 1.Chỉ thường xuyên NSNN Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính củanhà nước nhằm trang trai những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các tổ.
chúcchính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhànước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và dio tạo, y t8, xã hội, văn hóa thông tin thé dục thể thao khoa học và công nghệ môi trường và các hoạtđộng sự nghiệp khác. Chi thường xuyên có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, phần lớn các khoản chi thường xuyên mang tinh én định khá rõ nét. Dù thể chế chính trị thay đổi thì chức năng vốn có của nhả nước nhằm. trấn áp hay tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế xã hội vẫn diễn ra và phải có nguồn déthye hiện.
Ngoài ra , tính én định của các khoản chỉ thường xuyên còn bắt nguồn từtính ôn định trong từng hoạt động cụ thế mà mỗi đơn vị trong bộ máy nha nước phảithực hiện Thứ hai, xết theo cơ lu chỉ NSNN ở từng nign độ va mye đích sử dụng cuối cùng thì đại bộ phận các khoản chỉ thường xuyên của NSNN mang tính chất tiêu ding xã hội. Bởi lẽ, trong từng niên độ, ngân sách chi thường xuyên chủ yếu trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh.Chỉ thường xuyên NSNN cho giảo dục đào tao Phát triển giáo dục dao tạo chính là động lực của sự phát triển kinh téxa hội. Để mở rộng, phát triển Và nâng cao hiệu quả của giáo dục đào tạo,chúng. ta cần phải có ngụ lực để đáp ứng nhiệm vụ chỉ cho lĩnh vực này.
Trong những năm qua, vốn đầu tự cho giáo dục đảo tạo được huy động. từnhiều nguồn khác nhau, nhưng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước vin giữnhiệm vụ quan trọng nhất, bởi giáo dục đảo tạo lả lĩnh vực nhạy cảm, mangtính quy mô lớn, tầm cỡ quốc gia, cần có sự chỉ đạo của Chính phú, sự quảnlý chat chế của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội. Hang năm, Chínhphủ déu đành một phần lớn nguồn lực trong tổng chỉ ngân sách nhà. nước chogiáo dục đảo tạo.
Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục dio tạo là mộttrong hai chỉ tiêu "cứng” trong việc phân bổ nguồn lực. Như vậy, cd thể hiểu một cách chung nhất chỉ thường xuyên ngân sáchnhà mước cho sự nghiệp giáo duc là quả trình phân phối sử dung métphan-von tiển tệ từ quỹ ngân sách nhà nước để duy tri, phát triển sự nghiệpgiáo dục - đào tạo theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp. Chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục dio tạo có đặcđiểm sau: Cũng như các khoản chỉ thường xuyên khi „ chỉ thường xuyên ngânsách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục mang tính én định một cách tương đối.Trong bất kỳ giai đoạn nảo Nhà nước cũng phải chăm lo phát triển sự nghiệpgiáo dục - đào tạo. Điều này đã dẫn tới các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục -dao tạo luôn phát sinh một cách liên tục, đều đặn vả có tinh ổn định một cáchtương đối; Chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo vừamang, tính chất tiêu dùng xã hội vừa mang tinh chất chỉ cho đầu tư phát triển.
này xuất phát từ đặc điểm riêng có của hoạt động giáo dục dio tạo. Hoạtđộng giáo dục đảo tạo không tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tao ra củacải vật chất, nhưng lại tham gia vào quá trình đào tạo ra nguồn nhân lực cóhằm lượng chất xám cao. Quan điểm của Nhà nước về phát triển giáo dục đảo tạo và hệ thốngtổ. chức của ngành ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ thường xuyên ngân sách nhamude cho giáo dục đảo tạo.
Bởi chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước nhằmmục. đích đảm bảo các hoạt động của ngành giáo dục, trong đó hoạt động củabộ máy chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chỉ. Nếu hệ thống tổ chức củangành tinh gọn, hiệu quả thi số chi thuờng xuyên sẽ đuợc giảm bớt và nguợclại. Bên cạnh đó, quyết định của Nhà nude trong việc lựa chọn phạm vi vàmức độ ‘cung ứng cáế địch vụ giáo dục cũng sẽ có ảnh huởng trực tiếp đnphạm vi, cơ cấu và mức độ chỉ đhuờng xuyên ngân sách nhà nước cho sựnghiệp giáo dục đào tạo [15] 1.Quản lý chỉ thường xuyên NSN cấp huyện cho giáo dục Quan lý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đảo tạo là một khái niệm phán ánh hoạt động tô chức điều khiến và đưa ra quyết định.
của Nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN cho. các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước trong. việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục. X<ét về phương diện cấu trúc, quản lý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đảo tạo bao gồm hệ thống các yếu tổ sau: Đối tượng quản lý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục: Làtoàn bộ các khoản chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáodục.
Chủ thể quan lý chỉ thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục ở cắp huyện là Phòng tài chính-kế hoạch va các cơ sở giáo dục đảo taotrén địa bàn cấp huyện.