phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện Chƣơng 2: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2018 Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 4 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1.Tổng quan về ngân sách nhà nƣớc và ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1.Ngân sách nhà nước * Khái niệm: Trongthệtthốngttài chính thống nhất ngân sách nhà nước là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ đạo. Ngân sách nhà nước cũng là khâu tài chính được hình thành sớm nhất, nó ra đời tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ. Cho đến nay, thuật ngữ “ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội ở mọi quốc gia. Nhưng quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất.
Trên thực tế, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước không giống nhau tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau. Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư của Liên Xô (cũ) (1971) cho rằng: “Ngân sách là bảng liệt kê các khoản thu và chi bằng tiền của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định; là mọi kế hoạch thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan hoặc cá nhân nào trong một giai đoạn nhất định”. Từ điển Bách Khoa Toàn Thư về kinh tế của Pháp định nghĩa: “Ngân sách là văn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền, địa phương, đơn vị công hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội …) được dự kiến và cho phép”. Từ điển Kinh tế thị trường của Trung Quốc định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”.
5 Luan van Theo Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004, thì: "Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước". Như vậy, định nghĩa về NSNN như trong Luật ngân sách nhà nước đã nhìn nhận NSNN một cách toàn diện theo nhiều góc độ khác nhau. Biểu hiện của NSNN rất đa dạng và phong phú, nhưng về thực chất chúng đều phản ánh các nội dung cơ bản là: - NSNN hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính, vì vậy nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. - Nhà nước quản lý ngân sách, mọi khoản thu và chi tài chính của Nhà nước đều do nhà nước quyết định, nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước.
* Hệ thống ngân sách nhà nước: Hệ thống các cấp NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau, có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của từng cấp ngân sách. Tổ chức hệ thống NSNN luôn gắn liền với tổ chức bộ máy Nhà nước và vai trò vị trí của bộ máy đó trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở hiến pháp, pháp luật. Phù hợp với mô hình chính quyền Nhà nước ta hiện nay, hệ thống NSNN theo luật định bao gồm NSTW và NSĐP. Trong đó NSĐP bao gồm: - Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gọi chung là ngân sách cấp tỉnh; - Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi chung là ngân sách cấp huyện; - Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn gọi chung là ngân sách cấp xã.
6 Luan van Ngân Sách Nhà Nước Ngân Sách Trung Ương Ngân Sách Địa Phương Ngân Sách cấp Tỉnh Ngân Sách cấp Huyện Ngân Sách cấp Xã Sơ đồ 1.1: Hệ thống các cấp ngân sách nhà nƣớc Trong hệ thống NSNN của nước ta hiện nay thì NSTW chi phối phần lớn các khoản thu và chi quan trọng. Còn NSĐP chỉ được giao nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương. Mỗi cấp chính quyền có một phân cấp ngân sách riêng để cung cấp phương tiện vật chất cho chính quyền đó hoạt động thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống NSNN tuân thủ các nguyên tắc: Thứ nhất, phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể cho NSTW và NSĐP.
Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm các khoản thu giữa các cấp ngân sách. 7 Luan van Thứ hai, thực hiện bổ sung ngân sách cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo công bằng phát triển cân đối giữa các vùng và các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu ngân sách cấp dưới. Thứ ba, tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu và số bổ sung từ cấp trên cho cấp dưới ổn định trong vòng 3-5 năm (gọi chung là thời kỳ ổn định ngân sách).
Chính phủ trình Quốc Hội thời kỳ ổn định ngân sách giữa NSTW và NSĐP. UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa các cấp NSĐP. Thứ tư, nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo, trường hợp cần ban hành chính sách chế độ mới làm tăng các khoản chi ngân sách sau khi dự toán thì phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp. Thứ năm, trong thời kỳ ổn định ngân sách các địa phương được phép sự dụng nguồn tăng thu cho NSĐP (phần mà NSĐP được hưởng) để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quản lý, sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách phải tăng khả năng tự cân đối phát triển NSĐP thực hiện giảm dần số lượng bổ sung của cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết cho cấp trên.
Thứ sáu, trong trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải chuyển kinh phí cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi đó. Thứ bảy, UBND các cấp được sử dụng nguồn ngân sách của mình đề hỗ trợ cho các đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường hợp: Khi xảy ra thiên tai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huy động nguồn lực để đảm bảo ổn định tình hình kinh tế xã hội. Thứ tám, ngoài việc bổ sung nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi thì không được dùng ngân sách cấp này đề chi cho ngân sách cấp khác.Ngân sách nhà nước cấp huyện * Khái niệm: Kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khoá IX khẳng định: huyện là một cấp chính quyền có ngân sách, ngân sách huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa phương thuộc hệ thống NSNN. Như vậy, ngân sách nhà nước huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước trên phạm vi địa bàn huyện.
* Vị trí, vai trò của ngân sách cấp huyện: Thứ nhất, Ngân sách cấp huyện là nơi huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước cấp huyện. Huyện là một cấp chính quyền nên cũng có hệ thống các cơ quan hành chính hoạt động nhằm thực hiện chức năng và quyền hạn của huyện. Để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động, cần phải có một nguồn tài chính tập trung cho nó, đó chính là ngân sách cấp huyện. Tuỳ theo phạm vi địa lý, tình hình KT-XH của từng huyện mà yêu cầu đảm bảo về ngấn sách cấp huyện là khác nhau.
Thứ hai, Ngân sách cấp huyện là công cụ ổn định và thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Một trong những nhiệm vụ của các CQNN cấp huyện là xây dựng kế hoạch phá triển kinh tế địa phương và đảm bảo thực hiện tốt những kế hoạch đó. Hoạt động điều tiết giúp nền kinh tế ổn định và phát triển không thể thực hiện tốt nếu không có ngân sách làm công cụ. CQNN cấp huyện căn cứ vào ưu điểm, nhược điểm của địa phương mình để sử dụng nguồn ngân sách hợp lý cho hoạt động xây dựng và kích thích phát triển nền kinh tế địa phương.
Thứ ba, Ngân sách cấp huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường, đảm bảo công bằng xã hội. Đây là vai trò không thể thiếu của ngân sách mỗi quốc gia. Ngân sách có tác dụng hỗ trợ đắc lực để nhà nước khắc phục những khó khăn khi kền kinh tế quốc gia đang nỗ lực phấn đấu trở thành nền kinh tế thị trường, đó là 9 Luan van thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo,. Hơn nữa, bộ máy nhà nước còn mang nhiệm vụ đảm bảo đời sống của nhân dân và đảm bảo công bằng xã hội, nguồn kinh phí để thực hiện những nhiệm vụ đó đến từ ngân sách nhà nước cấp huyện.Quản lý ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1.Khái niệm Quản lý Ngân sách nhà nước cấp huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp huyện; quản lý các khoản thu, chi của huyện đã dự toán bởi UBND huyện giao và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cấp trên giao và Hội đồng nhân dân huyện đề ra.Nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cấp huyện Theo Luật Ngân sách 2002, nội dung phân định nhiệm vụ thu chi của NSNN huyện bao gồm những nội dung sau: 1.