phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý chi NSNN thực hiện CTMTQG GD&ĐT Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý chi NSNN thực hiện CTMTQG GD&ĐT tại KBNN Thái Nguyên. Chƣơng 4: Các giải pháp tăng cƣờng công tác Quản lý chi NSNN thực hiện CTMTQG GD&ĐT tại KBNN Thái Nguyên. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO 1.
Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN thực hiện chƣơng trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục, đào tạo 1. Khái niệm và phân loại chương trình mục tiêu Quốc gia Chƣơng trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trƣờng, cơ chế, chính sách, tổ chức để thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã đƣợc xác định trong Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nƣớc trong một thời gian nhất định. Một chƣơng trình mục tiêu quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện các mục tiêu của chƣơng trình. Đối tƣợng quản lý và kế hoạch hóa đƣợc xác định theo chƣơng trình, việc đầu tƣ đƣợc thực hiện theo dự án.
Dự án thuộc chƣơng trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các hoạt động để tiến hành một công việc nhất định nhằm đạt đƣợc một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã đƣợc định rõ trong chƣơng trình với nguồn lực và thời hạn thực hiện đƣợc xác định. Chƣơng trình mục tiêu quốc gia đƣợc phân loại dựa trên cơ sở nhiệm vụ chi ngân sách cho các chƣơng trình, mục tiêu, dự án quốc gia và các nhiệm vụ chi cần theo dõi riêng (gồm cả các chƣơng trình hỗ trợ của nhà tài tr ợ quốc tế Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 và chƣơng trình, mục tiêu, dự án có tính chất chƣơng trình do chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng ban hành có thời gian thực hiện từ 5 năm trở lên, phạm vi thực hiện rộng, kinh phí lớn). viết tắt là chƣơng trình, mục tiêu. Các chƣơng trình mục tiêu Quốc gia TT Tên chƣơng trin ̀ h mu ̣c tiêu quố c gia 1 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Việc làm và dạy nghề 2 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững 3 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng nông thôn 4 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Y tế 5 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình.
6 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Vệ sinh an toàn thực phẩm 7 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Văn hóa 8 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Giáo dục, đào tạo 9 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Phòng, chống ma túy 10 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Phòng, chống tội phạm 11 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Sử dụng năng lƣợng tiết kiệm và hiệu quả 12 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu 13 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới. 14 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Đƣa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, 15 vùng xa, biên giới và hải đảo. 16 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Khắc phục và cải thiện ô nhiễm môi trƣờng Nguồn: Quyết định số 2406/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo qui định hiện hành mỗi Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia đƣợc mã hóa thành 4 ký tự; Khi hạch toán các khoản chi ngân sách nhà nƣớc cho chƣơng trình, mục tiêu sẽ phải hạch toán theo mã số các tiểu chƣơng trình, nhiệm vụ, dự án qui định; Trƣờng hợp địa phƣơng bố trí nguồn ngân sách địa phƣơng để thực hiện Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 chƣơng trình, mục tiêu do Trung ƣơng quyết định thì phải hạch toán theo mã số chƣơng trình, mục tiêu và dự án quốc gia do Trung ƣơng quyết định (không hạch toán theo mã số chƣơng trình, mục tiêu do địa phƣơng quyết định ban hành). Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục, đào tạo Bất cứ một quốc gia nào cũng phải đƣợc xây dựng và phát triển trên nền tảng con ngƣời, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế tri thức đã trở thành một xu thế thời đại.
Chất lƣợng cuộc sống đƣợc đánh giá trƣớc hết ở tiêu chí thu nhập, giáo dục, sức khỏe và dinh dƣỡng, mức nghèo khổ, tình trạng môi trƣờng, sự bình đẳng, mức độ tự do cá nhân, sự phong phú về văn hóa. Nhƣ vậy, giáo dục là một trong những mục đích phát triển kinh tế. Giáo dục đƣợc xem là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mọi ngƣời dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia. Điều 35 – Hiến pháp năm 1992 của nƣớc ta đã ghi rõ: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”.
Quan điểm đó đã đƣợc tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII (1996) về định hƣớng chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ CNH - HĐH. Để thực hiện CNH - HĐH đất nƣớc nhất thiết phải phát triển giáo dục mạnh mẽ. Giáo dục là tiền đề, là yếu tố hàng đầu thuộc năng lực nội sinh, có tầm quan trọng hơn so với các hệ thống yếu tố khác nhƣ tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật. Giáo dục là nền tảng phát triển khoa học công nghệ.
Nâng cao chất lƣợng giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu nhằm tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lƣợng giáo dục, xây dựng nhân cách ngƣời học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Giáo dục đào tạo có chức năng đặc thù là truyền bá kiến thức khoa học, giảng dạy và đào tạo một cách có hệ thống cho những ngƣời có năng lực học tập và vận dụng những kiến thức khoa học vào thực tế. Trong điều kiện của cuộc Cách mạng KHKT, hệ thống giáo dục đào tạo không những đào tạo đƣợc đội ngũ cán bộ khoa học mà còn sản sinh ra kiến thức khoa học, thông qua hệ thống NCKH của các trƣờng Đại học. Giáo dục góp phần quan trọng thúc đẩy việc hình thành và chuyển Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 dịch cơ cấu nền KTQD cho phù hợp xu hƣớng phát triển của mọi thời đại bởi một trong những điều kiện tiên quyết để hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền KTQD chính là số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu nguồn nhân lực của quốc gia.
Mà điều kiện tiên quyết đó chỉ có đƣợc thông qua sự phát triển của nền giáo dục quốc dân. Sự phát triển của giáo dục cả về quy mô, cả về chất lƣợng với một cơ cấu hợp lý về vùng, miền, trình độ, ngành nghề đào tạo… sẽ góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền KTQD phù hợp với xu hƣớng phát triển của thời đại, từ đó đảm bảo đƣợc sự tăng trƣởng cao và bền vững của nền kinh tế. Trong lịch sử từ khi xã hội có giai cấp, có Nhà nƣớc thì giáo dục đào tạo luôn luôn là một công cụ quan trọng của Nhà nƣớc. Giai cấp cầm quyền luôn nắm lấy giáo dục đào tạo để chi phối chúng theo hƣớng củng cố quyền lực và bảo vệ lợi ích cho mình.
Giáo dục đào tạo phục vụ chính trị nhƣng giáo dục đào tạo tồn tại một cách tƣơng đối độc lập với chính trị. Giáo dục đào tạo là hiện tƣợng phổ biến và vĩnh cửu còn quan hệ chính trị chỉ hình thành rõ nét khi xã hội có phân chia giai cấp và Nhà nƣớc xuất hiện. Xét về bản chất, giáo dục đào tạo thực sự gắn bó với những xu hƣớng chính trị tiến bộ. Nền giáo dục đào tạo ở nƣớc ta hiện nay là nền giáo dục đào tạo đƣợc ra đời và phát triển nhờ một thể chế chính trị cách mạng và tiến bộ.
Mục tiêu xã hội chủ nghĩa và độc lập dân tộc đƣợc quán triệt một cách sâu sắc trong toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam. Nhƣ vậy, giáo dục không chỉ tạo nên một lớp ngƣời lao động mới cho xã hội mà còn làm thay đổi cả bộ mặt chính trị xã hội thông qua mục đích tổ chức của nền giáo dục, các chính sách giáo dục thể hiện tính nhân văn, tính đại chúng hay tính đẳng cấp của giáo dục. Giáo dục đào tạo không chỉ tạo ra con ngƣời phát triển về trí tuệ, về kỹ năng lao động mà còn đảm bảo cho việc hình thành một ý thức hệ tƣ tƣởng, hình thành một nếp sống mới trên nền tảng của một nền văn hóa mới, nhân sinh quan mới. Xét về góc độ lịch sử, văn hóa chỉ đƣợc hình thành thông qua một quá trình sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền kinh nghiệm từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong quá trình này không thể thiếu vai trò của giáo dục đào tạo, đó chính là truyền lại các giá trị văn hóa. Giá trị do con ngƣời sáng tạo ra đƣợc tập hợp Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 lại, hệ thống hóa, tri thức hóa trở thành những kiến thức trong các giáo trình, bài giảng của nhà trƣờng. Nhƣ vậy, chính văn hóa đã mang đến cho giáo dục đào tạo những nội dung thiết yếu và những nội dung cần truyền đạt. Còn giáo dục đào tạo không phải là một quá trình thụ động mà là một quá trình sáng tạo.
Sự sáng tạo trong quá trình giáo dục đào tạo làm phong phú hơn những giá trị văn hóa vốn có, làm nảy sinh những giá trị văn hóa mới. Ngày 13 tháng 6 năm 2012 Thủ tƣớng Chính phủ đã ký quyết định số 711/QĐ- TTg phê duyệt “Chiến lƣợc phát triển Giáo dục 2011- 2020”. Chiến lƣợc đã định hƣớng: “Phát triển và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lƣợng cao là một đột phá chiến lƣợc".