CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỂ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRONG CÁC HỌC VIỆN NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI 1. NHŨNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỀ GD- ĐT TRONG QUÂN ĐỘI Nhà trường quân đội nằm trong hệ thống trường nhà nước. - Điều 45 Luật Giáo dục nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam qui định nhà trường của lực lượng vũ trang có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và viên chức quốc phòng, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng an ninh. - Nghị quyết 93/DUQSTW của Đảng uỷ Quân sự Trung ương đã xác định: “Hệ thống các nhà trường trong quân đội là một bộ phận của hệ thống nhà trường nhà nước”.
Công tác GD ĐT quân đội phải vừa tuân thủ các yêu cầu, nguyên tắc, nội dung công tác GD ĐT nói chung, vừa phù hợp với những đặc trưng của hệ thống GD- ĐT, hệ thống nhà trường quân đội. Đặc điểm của hệ thống GD ĐT trong quân đội Hệ thống nhà trường quân đội nằm trong hệ thống nhà trường nhà nước, công tác NTQĐ là một hoạt động của nhà nước. Vì vậy, công tác GD ĐT vừa thực hiện theo Luật Giáo dục, các văn bản dưới luật do Nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về GD ĐT (Bộ Giáo dục và Đào tạo) ban hành, vừa thực hiện theo điều lệnh, điều lệ của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hệ thống GD ĐT trong quân đội có một số đặc điểm chính sau đây: - Nhà trường quân đội đào tạo theo kế hoạch, có địa chỉ sử dụng.
Khác với hầu hết các cơ sở đào tạo dân sự hiện nay ở Việt Nam, hệ thống GD ĐT trong các học viện, nhà trường quân đội đào tạo theo kế hoạch với những địa chỉ sử dụng cụ thể (Bộ Quốc Phòng chủ động về nguồn vào, nguồn ra, không 5 bị động hoàn toàn vào sự điều tiết của thị trường chung). Điều này là rất quan trọng, giúp công tác GD ĐT sát hơn với nhu cầu thực tiễn, tránh lãng phí trong công tác đào tạo. Quan hệ giữa các học viện, nhà trường với các cơ sở sử dụng nguồn lực vì thế trở nên gắn bó, ràng buộc nhau nhiều hơn; trách nhiệm của các cơ sở đào tạo vì thế cũng được nâng lên để đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu thực tiễn luôn được đặt ra. - Việc học tập và rèn luyện của học viên quân sự được nhà trường tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất - kỹ thuật, huấn luyện, sinh hoạt, chịu sự quản lý 24/24 giờ, ngoài học tập, rèn luyện còn thực hiện công tác sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ chính trị, quân sự khác.
Điều này giúp tăng tính kỷ luật của các học viên ngay từ trong nhà trường, từ đó ý thức chấp hành kỷ luật trong quân đội sẽ được đề cao; hơn nữa, trách nhiệm của đội ngũ các cán bộ giảng dạy trong các học viện, nhà trường quân đội cũng phải được đề cao hơn: Ngoài quan hệ thầy trò, quan hệ giữa các thành viên trong các học viện, nhà trường quân đội là quan hệ đồng chí đồng đội, quan hệ cấp trên cấp dưới, quan hệ giữa người chỉ huy và người bị chỉ huy. Thông qua các chỉ thị, mệnh lệnh từ trên xuống, người học viên phải chấp hành nghiêm, kịp thời, chính xác theo điều lệnh. Đây là đặc điểm rất quan trọng trong đào tạo tại các học viện, nhà trường quân đội - Do công việc quân sự có tính bí mật cao, sự hoạt động của các cơ quan đào tạo nói chung đều theo điều lệnh, điều lệ. Quyền tự chủ trong nhà trường quân đội phải trong khuôn khổ nhất định, theo qui định của quân đội.
- Chất lượng đào tạo trong các nhà trường trực tiếp quyết định đến chất lượng xây dựng đơn vị chính qui, công tác quản lý toàn diện trong đơn vị, đảm bảo khả năng sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, công tác của Quân đội. Các nhà trường là nơi rèn luyện thống nhất đội ngũ cán bộ duy trì điều lệnh, điều lệ, qui chế, qui định.để thống nhất quản lý bộ đội trong toàn quân. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu các học viện nhà trường quân đội luôn phải chú ý nâng cao chất lượng công tác GD ĐT, từ đó tạo nền tảng cho việc xây dựng các đơn vị 6 quân đội ngày càng chính qui, tinh nhuệ, hiện đại. Có thể nói quản lý GD ĐT trong Quân đội và xây dựng nhà trường chính quy là một thể thống nhất.
Những đặc điểm trên đây đã tạo điều kiện tốt cho việc quản lý tài chính, giúp cho việc lập kế hoạch chi, quản lý, theo dõi và kiểm tra kế hoạch chi được thuận lợi. Công tác GD ĐT trong các học viện, nhà trường quân đội hướng vào các mục tiêu chủ yếu sau: - Đại học hoá trình độ học vấn của đội ngũ sỹ quan và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ nhân viên chuyên môn kỹ thuật, làm cơ sở hoàn thành tốt chức vụ được giao; - Thực hiện sự chuyển tiếp vững chắc các thế hệ cán bộ, đáp ứng một cách vững chắc nhu cầu về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật các cấp các ngành của các lực lượng; - Làm nòng cốt vững chắc xây dựng Quân đội nhân dân thực sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống; - Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành công tác đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng nhà trường; - Đề cao trách nhiệm của các cấp uỷ và chỉ huy đối với công tác đào tạo và xây dựng nhà trường, phát huy trách nhiệm của các Tổng cục, quân chủng binh chủng tham gia chỉ dạo, quản lý công tác đào tạo theo chức năng; - Củng cố cơ quan nhà trường các cấp bảo đảm thực hiện tốt chức năng giúp Đang uỷ và người chí huy quản lý tập trunơ thống nhất công tác nhà trường. Vị trí vai trò của công tác GD ĐT trong quân đội Trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay, GD ĐT luôn có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia. Quốc gia nào càng có nền giáo dục hiện đại và phát triển, thì có nghĩa là quốc gia đó có tầng lớp trí thức đông đảo, tạo điều kiện tiến sâu vào nền kinh tế tri thức, không ngừng đưa kinh tế phát triển.
Đánh giá về sự phát triển kinh tế và sự tiến bộ về văn hoá xã hội 7 của một quốc gia, ngày nay người ta không chỉ căn cứ vào chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân, mà còn dựa trên các chỉ tiêu về thu nhập, tuổi thọ và trình độ giáo dục. GD ĐT vừa có nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa có nhiệm vụ hoàn thiện nhân cách con người. Nhận thức được vấn đề đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn rất chú trọng công tác GD ĐT, coi GD ĐT là chìa khoá để mở cửa tiến vào nền văn minh trong tương lai và đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lớn, trong đó đặc biệt quan trọng là đề ra những chính sách đầu tư hữu hiệu, nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản và lâu dài của sự nghiệp GD ĐT, sớm nâng cao mặt bằng dân trí nước ta lên ngang trình độ của các nước phát triển. Cũng giống như công tác GD ĐT nói chung, GD ĐT trong các học viện, nhà trường quân đội cũng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quốc phòng, an ninh.
Vai trò này được thể hiện trên những góc độ chính sau đây: Thứ nhất, Đặt trong bối cảnh các cuộc chạy đua vũ trang khu vực và quốc tế đã và đang có những diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay, thì việc nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho tất cả các cán bộ, chiến sĩ là hết sức cần thiết để giúp nắm vững các đặc tính kỹ thuật của các trang thiết bị, vũ khí hiện đại, các thao tác kỹ thuật chính xác, tăng cường sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau giữa các bộ phận chức năng tác chiến trong quân đội. Nếu công tác GD ĐT trong quân đội không được đề cao, thì không thể thực hiện hiệu quả định hướng xây dựng quân đội chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Thứ hai, Trong thời bình, quân đội ngoài nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ an toàn lãnh thổ quốc gia, thì một nhiệm vụ khác cũng rất quan trọng là tham gia xây dựng kinh tế. Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ này, thì rõ ràng đòi hỏi các cán bộ, chiến sỹ phải được đào tạo, nâng cao kiến thức về quản lý kinh tế.
Đáp ứng yêu cầu này, thì chủ lực vẫn phải thuộc về các trường quân đội. Điều này cho thấy sự cần thiết phải mở rộng và tăng cường công tác đào tạo đa ngành trong quân đội, đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu về GD ĐT trong tình hình mới. Phân cấp quản lý GD ĐT trong Quân đội Việc phân cấp quản lý GD ĐT trong các học viện, nhà trường quân đội dựa trên các nguyên tắc chủ yếu sau đây : Thứ nhất, Học viện, nhà trường quân đội là một bộ phận của hệ thống nhà trường cả nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Quân sự trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, mà thường xuyên và trực tiếp là Tổng Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Tổng cụ Chính trị; chịu sự chỉ đạo về mặt nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc chỉ đạo, quản lý từng bước, từng mặt công tác Nhà trường - thực hiện theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ cùng cấp.
Thứ hai, Nhiệm vụ phải đi đôi với quyền hạn. Việc phân cấp phải đáp ứng yêu cầu về sự minh bạch, rõ ràng, cấp nào quản lý có hiệu quả hơn thì phân cấp cho cấp đó; công việc của các cấp không trùng lắp, tạo điều kiện cho mỗi cấp thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo tập trung dân chủ, phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi cấp, mỗi cá nhân, đảm bảo nâng cao chất lược đào tạo theo mục tiêu xác định. Thứ ba, Thực hiện phân cấp quản lý khi công việc có nhiều cơ quan tham gia, phải có cơ quan chủ trì và xác định rõ mối quan hệ phối hợp, kết hợp chặt chẽ, hỗ trợ nhau trong thực thi nhiệm vụ.