chương I luật Kiểm toán độc lập được quốc hội khóa 12 (2011), thì kiểm toán độc lập có vai trò như sau: “Hoạt động kiểm toán độc lập nhằm góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán và doanh nghiệp, tổ chức khác; làm lành mạnh môi trường đầu tư; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng; phát hiện và ngăn chặn vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”. Khái niệm về chất lượng kiểm toán a. Khái niệm về chất lượng Chất lượng là thước đo giá trị của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… Tùy thuộc vào những góc độ khác nhau, có những định nghĩa và quan điểm khác nhau. Với mọi loại hình sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ, chất lượng phản ánh về giá trị về mặt lợi ích của hàng hóa, dịch vụ cung cấp và là khái niệm có tinh chất tương đối biến đổi theo không gian và thời gian.
Chất lượng là vấn đề đặt ra đối với mọi nền sản xuất và mọi loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Chất lượng phản ánh giá trị về mặt lợi ích của sản phẩm hàng hoá dịch vụ và là khái niệm phức tạp, phụ thuộc vào trình độ của nền kinh tế và tuỳ những góc độ của người quan sát. Theo từ điển tiếng việt (1994) thì “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, một sự vật, sự việc”. Theo định nghĩa của TCVN 5200 - ISO9000 thì “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua”.
Ngoài ra các tổ chức khác nhau còn đưa ra nhiều các định nghĩa về chất lượng cho các sản phẩm khác nhau, mặc dù vậy các định nghĩa này đều nêu nổi bật cái cuối cùng mà cả người sản xuất và người tiêu dùng đều muốn đạt tới là sự thoả mãn nhu cầu tiêu dùng với các điều kiện nhất định. Khái niệm chất lượng kiểm toán Theo cách thức và quan điểm chung về chất lượng như các định nghĩa đã nêu, tiến hành điều tra tại các công ty kiểm toán đang hoạt động ở Việt nam với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ và các đối tượng sử dụng dịch vụ, cho thấy các quan điểm về chất lượng kiểm toán hiện nay như sau : Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn Luan van 11 của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”. Như vậy, chất lượng hoạt động kiểm toán có thể được xem xét dưới ba góc độ: - Mức độ người sử dụng thông tin thoả mãn đối với tính khách quan và độ tin cậy của kết quả kiểm toán. - Mức độ đơn vị được được kiểm toán thoả mãn về ý kiến đóng góp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán và chi phí dịch vụ kiểm toán ở mức hợp lý. Muốn đạt được mục đích trên thì chất lượng hoạt động kiểm toán phải được kiểm soát chặt chẽ. Việc kiểm soát phải được thực hiện bởi chính các công ty kiểm toán mà còn có thể được tiến hành bởi hội nghề nghiệp hoặc các cơ quan có chức năng liên quan. KSCL từ bên ngoài có thể được định nghĩa là: “ Việc kiểm tra và đánh giá việc thực hiện thực hiện dịch vụ của một người hành nghề và việc kiểm tra đánh giá này được thực hiện bởi một hội đồng, hay một ủy ban bao gồm những hoạt động trong cùng ngành nghề đó” KSCL từ bên trong có thể được định nghĩa là: “Quá trình mà kiểm toán viên và đơn vị kiểm toán thực hiện các chính sách và thủ tục KSCL đối với toàn bộ hoạt động kiểm toán của đơn vị đối với từng cuộc kiểm toán” Như vậy: Chất lượng hoạt động kiểm toán hoàn toàn phụ thuộc vào từng đơn vị kiểm toán, phụ thuộc vào đặc thù và phạm vi kiểm soát từng lĩnh vực hoạt động khác nhau, và từng quốc gia khác nhau.
Các tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng kiểm toán Dựa trên định nghĩa về chất lượng kiểm toán theo VSA 220, ta có thể đưa ra những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng kiểm toán, bao gồm: việc xác định mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán và mức độ thỏa mãn của đơn vị được kiểm toán. * Mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán Tính khách quan, độc lập của kiểm toán viên là điều kiện trước hết để đảm bảo ý nghĩa và giá trị sử dụng của dịch vụ kiểm toán độc lập. Ý kiến kiểm toán đưa ra không làm tăng thêm lượng thông tin cho những người sử dụng kết quả kiểm toán mà chỉ đảm bảo cho những đối tượng này về tính trung thực hợp lý của các báo cáo tài chính mà họ được cung cấp. Sự đảm bảo này được chấp nhận và có giá trị bởi: (a) Ý kiến kiểm toán được đưa ra bởi chuyên gia kiểm toán có đủ năng lực, trình độ chuyên môn.
(b) Tính độc lập, khách quan của ý kiến kiểm toán. Những người sử dụng kết quả kiểm toán chỉ thật sự hài lòng và thoả mãn khi họ tin tưởng rằng ý kiến kiểm toán đưa ra dựa trên các cơ sở đó. Để đánh giá được chỉ tiêu này, người ta xem xét tính tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của kiểm toán viên và của công ty kiểm toán, điều này thể hiện khá rõ qua tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện côngviệc kiểm toán. Việc đánh giá đó cần bao quát các khía cạnh như đảm bảo tính độc lập, khách quan và chính trực, kiến thức, kỹ năng kinh nhiệm của kiểm toán viên, các phương pháp thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán, công tác giám sát, quản lý cuộc kiểm toán, các thủ tục soát xét, phát hành báo cáo kiểm toán… * Mức độ thỏa mãn của đơn vị được kiểm toán Mục tiêu chính của kiểm toán độc lập là đưa ra ý kiến độc lập về tính Luan van 13 trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính.
Do vậy ở chỉ tiêu thứ nhất là thể hiện sự thoả mãn về tính khách quan, độc lập và tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những người sử dụng kết quả kiểm toán thì ở chỉ tiêu này lại là sự thoả mãn của đơn vị được kiểm toán về giá trị gia tăng mà kiểm toán viên có thể cung cấp cho đơn vị. Đối với các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán, việc phát hiện và ngăn ngừa các sai sót trong quản lý tài chính, kế toán không phải lúc nào cũng hoàn hảo và kiểm soát được toàn bộ. Do vậy báo cáo tài chính do đơn vị lập nên vẫn có thể có những sai sót trọng yếu do những hạn chế trong hệ thống kiểm soát của đơn vị. Trách nhiệm của các kiểm toán viên là phải đảm bảo rằng báo cáo tài chính đó không có sai sót trọng yếu, và nếu có kiểm toán cần chỉ ra những sai sót đó để đơn vị sửa chữa và điều chỉnh hoặc là cơ sở cho việc không đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.
Đó chính là cơ sở để các nhà quản lý đơn vị tin tưởng và đặt hy vọng vào những phát hiện và những kiến nghị đóng góp của kiểm toán viên theo đó có thể sửa đổi và đảm bảo rằng báo cáo tài chính của họ là trung thực và hợp lý. Mức độ thoả mãn của các nhà quản lý đơn vị đối với những đóng góp của kiểm toán không cụ thể hoá được bằng số lượng bởi có thể có hoặc có thể không có các phát hiện và kiến nghị góp ý hoàn thiện hệ thống kiểm soát của đơn vị mà chỉ có thể đánh giá ở sự hài lòng và đánh giá cao của các nhà quản lý doanh nghiệp về tính chuyên nghiệp và trách nhiệm của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán. * Báo cáo kiểm toán được phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán và chi phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp Một trong các yêu cầu của thông tin tài chính là tính kịp thời, các thông tin không được cung cấp đúng lúc sẽ trở nên không có giá trị sử dụng, đồng Luan van 14 thời có thể gây nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định quản lý hoặc bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh. Mặc dù kiểm toán không phải là kênh cung cấp thông tin riêng biệt, nhưng nó là một khâu thẩm định trong hệ thống cung cấp thông tin.
Các thông tin tài chính do đơn vị lập và được các kiểm toán viên, công ty kiểm toán kiểm tra và đưa ra ý kiến về tính trung thực hợp lý của các thông tin này trước khi chuyển cho những người sử dụng. Do vậy mọi chậm trễ trong quá trình kiểm toán do nguyên nhân của việc tổ chức, giám sát quản lý cuộc kiểm toán thiếu hiệu quả hoặc bất cứ lý do gì khác từ phía công ty kiểm toán dẫn đến sự chậm trễ không theo đúng kế hoạch đặt ra trong hợp đồng kiểm toán hay Thư hẹn kiểm toán đều làm ảnh hưởng đến uy tín và giá trị của dịch vụ của công tykiểm toán. Về giá phí kiểm toán, tuy không thể hoàn toàn đánh giá được chất lượng của một cuộc kiểm toán nhưng nó cũng đánh giá mức độ thoả mãn nhu cầu của những người sử dụng kết quả của dịch vụ kiểm toán về sự đảm bảo cho tính trung thực, hợp lýcủa các báo cáo tài chính mà họ được cung cấp cũng như sốlượng những ý kiến tư vấn nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là hoạt động kiểm toán độc lập, việc quan tâm đến lợi ích của đơn vị được kiểm toán hết sức quan trọng, đó chính là yếu tố kinh tế xã hội của dịch vụ.