Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán hoạt động kinh doanh thương mại tại các doanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng kế toán hoạt động kinh doanh thương mại tại công ty TNHH TM&DV điện nước Lộc Hương - Chương 3: Hoàn thiện kế toán hoạt động kinh doanh thương mại tại công ty TNHH TM&DV điện nước Lộc Hương SV: Vũ Thị Hòa K15 - KTDNE Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng 4 Khoa Kế toán – Kiểm toán CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƢƠNG MẠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về hoạt động kinh doanh thƣơng mại 1. Khái niệm Theo Điều 5, Khoản 2 Luật Thƣơng mại đã định nghĩa nhƣ sau: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế xã hội”. Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu đơn giản hoạt động kinh doanh thƣơng mại là hoạt động kinh tế chủ yếu của DNTM, là hoạt động lƣu thông và phân phối hàng hóa trên thị trƣờng buôn bán hàng hóa, là khâu trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng thông qua mua bán, trao đổi sản phẩm hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng hóa của ngƣời tiêu dùng.
Hoạt động thƣơng mại chủ yếu là mua các sản phẩm hàng hóa của các DNSX, sau đó thông qua hệ thống bán hàng của mình cung cấp cho ngƣời tiêu dùng và thu tiền. Quá trình kinh doanh thƣơng mại gồm ba khâu chủ yếu, đó là: mua vào, dự trữ và bán ra. Trong đó quá trình vốn kinh doanh của doanh nghiệp vận động theo mô hình T-H-T’. Vì vậy, muốn quản lý đƣợc tốt hoạt động kinh doanh thƣơng mại, doanh nghiệp cần bám chắc vào các khâu để có thể có cái nhìn một cách tổng quát nhất đối với hoạt động này.
Đặc điểm về hoạt động kinh doanh thương mại Trong phần trên, chúng ta đã hiểu một cách khái quát nhất về hoạt động kinh doanh thƣơng mại. Để tìm hiểu kĩ hơn, trong phần này em xin đƣa ra một số đặc điểm của hoạt động kinh doanh thƣơng mại. Thứ nhất, về đặc điểm về hoạt động, khi so sánh DNTM với DNSX, đặc điểm khác biệt cơ bản nhất là: DNTM không trực tiếp tạo ra sản phẩm, nó đóng vai SV: Vũ Thị Hòa K15 - KTDNE Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng 5 Khoa Kế toán – Kiểm toán trò trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng; còn DNSX là doanh nghiệp trực tiếp tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu cho ngƣời tiêu dùng. Hoạt động kinh tế chủ yếu của DNTM là lƣu chuyển hàng hóa.
Quá trình lƣu chuyển hàng hóa thực chất là quá trình đƣa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thông qua quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng hóa của ngƣời tiêu dùng. Thứ hai, về đối tƣợng của hoạt động kinh doanh thƣơng mại, đối tƣợng kinh doanh của ngành thƣơng mại rất đa dạng và phong phú, bao gồm tất cả các loại hàng hóa trên thị trƣờng của nhiều ngành hàng khác nhau nhƣ: thủy sản, nông sản. thực phẩm chế biến, đồ gia dụng thiết yếu,… Thứ ba, về đặc điểm tổ chức kinh doanh, tổ chức kinh doanh thƣơng mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau nhƣ: tổ chức bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới, … Ngoài nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu là mua, bán hàng hóa thì các DNTM còn thực hiện nhiệm vụ sản xuất, gia công chế biến tạo thêm nguồn hàng và tiến hành các hoạt động kinh doanh. Thứ tư, về đặc điểm về sự vận động hàng hoá, sự vận động hàng hoá trong kinh doanh thƣơng mại không giống nhau, tuỳ thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng khác nhau có sự vận động khác nhau.
Do đó, chi phí thu mua và thời gian lƣu chuyển hàng hoá cũng khác nhau giữa các loại hàng. Vai trò của kinh doanh thương mại đối với nền kinh tế Kinh tế ngày càng phát triển một phần cũng nhờ hoạt động kinh doanh thƣơng mại làm đẩy mạnh tốc độ lƣu thông hàng hóa. Do đó, chúng ta không thể phủ nhận đƣợc vai trò của nó đối với nền kinh tế. Thứ nhất, kinh doanh thƣơng mại là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong lƣu thông hàng hoá.
Trƣớc hết kinh doanh thƣơng mại có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tiêu dùng của xã hội. Nó cung ứng vật tƣ hàng hoá cần thiết một cách đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng số lƣợng, chất lƣợng một cách thuận lợi với quy mô ngày càng mở rộng. Thứ hai, kinh doanh thƣơng mại thúc đẩy việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất. Thông qua việc bảo đảm những loại máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, kinh doanh thƣơng mại thúc đẩy các DNSX sử SV: Vũ Thị Hòa K15 - KTDNE Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng 6 Khoa Kế toán – Kiểm toán dụng các loại máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu mới, hiện đại.
Đồng thời thúc đẩy nhu cầu, gợi mở nhu cầu, đảm bảo cho ngƣời tiêu dùng những hàng hoá tốt, văn minh và hiện đại. Thứ ba, kinh doanh thƣơng mại thực hiện việc dự trữ các yếu tố của sản xuất và hàng hoá tiêu dùng, bảo đảm cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và ngƣời tiêu dùng giảm bớt đƣợc dự trữ lớn ở nơi sản xuất và dự trữ tiêu dùng cá nhân. Thứ tư, kinh doanh thƣơng mại bảo đảm điều hoà cung cầu. Nó làm đắt ở những nơi có nguồn hàng rẻ, nhiều, phong phú và làm rẻ hàng hoá ở những nơi hàng hoá đắt, ít, nghèo nàn.
Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, thƣơng mại có tác dụng lớn trong việc thúc đẩy việc sử dụng nguồn lực và phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả và hợp lý. Thứ năm, kinh doanh thƣơng mại nhờ việc áp dụng ngày càng nhiều các dịch vụ trong các hoạt động kinh doanh hàng hoá sẽ bảo đảm cho các vật tƣ kỹ thuật ngày càng kịp thời, thuận tiện và văn minh cho các DNSX, bảo đảm ngày càng nhiều hàng hoá tốt, hiện đại, văn minh với dịch vụ ngày càng thuận lợi cho ngƣời tiêu dùng, bảo đảm cung ứng hàng hoá ổn định, bình thƣờng trong xã hội. Kế toán hoạt động mua hàng 1. Khái niệm Mua hàng là giai đoạn đầu tiên trong quá trình lƣu chuyển hàng hóa tại các DNTM tạo tiền đề vật chất cho các quá trình tiếp theo thông qua quan hệ trao đổi thƣơng mại giữa doanh nghiệp với ngƣời bán.
Là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn tiền tệ sang vốn hàng hóa. Doanh nghiệp thay vì bị mất quyền sở hữu đối với tiền hoặc tăng một nghĩa vụ nợ phải trả với nhà cung cấp bằng việc bằng việc có quyền sở hữu đối với hàng hóa. Các phương thức mua hàng Hoạt động mua hàng bao gồm: mua hàng trong nƣớc (mua hàng nội địa) và mua hàng nhập khẩu (mua của quốc gia khác). Do bài khóa luận có giới hạn và để phù hợp với thực trạng của công ty mà bài khóa luận này nghiên cứu, em xin đƣợc tập trung vào kế toán nghiệp vụ mua hàng trong nƣớc tại các DNTM.
SV: Vũ Thị Hòa K15 - KTDNE Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng 7 Khoa Kế toán – Kiểm toán 1. Mua hàng trực tiếp Theo phƣơng thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký, doanh nghiệp mua hàng cử nhân viên trực tiếp đến mua hàng ở bên bán và nhận hàng. Sau khi nhận hàng và ký tên vào hóa đơn của bên bán, hàng hóa đã hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp mua chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đã mua về kho của doanh nghiệp, có thể chuyển hàng bằng phƣơng tiện tự có hoặc thuê ngoài.
Mọi tổn thất và chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển sẽ do bên mua chịu trách nhiệm. Mua hàng theo phương thức chuyển hàng Theo phƣơng thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký, bên bán sẽ chuyển hàng cho doanh nghiệp theo địa điểm đã quy định trƣớc trong hợp đồng, có thể là kho của doanh nghiệp mua hoặc một địa điểm nào khác, bằng phƣơng tiện tự có hoặc thuê ngoài. Bên mua sẽ cử nhân viên của mình đến nhận hàng. Chi phí vận chuyển có thể do bên bán hoặc bên mua chịu tùy theo quy định trong hợp đồng đã ký.
Khi doanh nghiệp mua nhận đƣợc hàng và thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hóa mới thuộc quyền sở hữu của bên mua. Điều kiện và thời điểm ghi nhận hàng mua 1. Điều kiện ghi nhận hàng mua Trong các doanh nghiệp nói chung và các DNTM nói riêng, hàng hoá đƣợc coi là hàng mua khi thoả mãn đồng thời 3 điều kiện sau: - Phải thông qua một phƣơng thức mua - bán - thanh toán tiền hàng nhất định. - Doanh nghiệp đã nắm đƣợc quyền sở hữu về hàng và mất quyền sở hữu về tiền hay một loại hàng hoá khác.
- Hàng mua vào nhằm mục đích để bán hoặc qua gia công, chế biến để bán. Ngoài ra, các trƣờng hợp ngoại lệ sau cũng đƣợc coi là hàng mua: - Hàng mua về vừa để bán, vừa để tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp mà chƣa phân biệt rõ giữa các mục đích thì vẫn coi là hàng mua - Hàng hoá hao hụt trong quá trình mua theo hợp đồng bên mua chịu Một số trƣờng hợp sau không đƣợc coi là hàng mua: - Hàng mua về đƣợc tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp SV: Vũ Thị Hòa K15 - KTDNE Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng 8 Khoa Kế toán – Kiểm toán - Hàng mua về để sửa chữa lớn hoặc xây dựng cơ bản - Hàng nhận bán đại lý kí gửi - Hàng hao hụt tổn thất trong quá trình mua theo hợp đồng bên bán phải chịu 1. Thời điểm ghi nhận hàng mua Là thời điểm chuyển tiền sở hữu, thời điểm này xác định phụ thuộc vào phƣơng thức mua hàng: + Nếu mua theo phƣơng thức mua trực tiếp, hàng mua đƣợc ghi nhận khi cán bộ nghiệp vụ nhận hàng hóa ký xác nhận vào chứng từ đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán.