CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1.1 Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1.1 Khái quát về cơ chế tự chủ tài chính ❖ Cơ chế Có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế, nhưng quan điểm chung nhất: Cơ chế là tổng thể các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, làm mắt xích trong quy trình vận động của sự vật tạo thành động lực dẫn dắt một nền kinh tế hay sự hoạt động về một lĩnh vực nào đó. Là quá trình chuyển động dây chuyền của các bộ phận cấu thành hệ thống, trong đó có bộ phận khởi động và chủ động, các bộ phận bị động trung gian (bộ phận truyền dẫn) và bộ phận bị động cuối cùng (công, quả). [2] ❖ Cơ chế quản lý Cơ chế quản lý là một hệ thống các nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý trong những giai đoạn khác nhau áp dụng cho những đối tượng khác nhau, những khâu khác nhau trong việc quản lý xã hội. [2] ❖ Tự chủ Tự chủ là các chủ thể có quyền tự quyết, hành động trong khuôn khổ pháp luật, có tính chủ động và năng động trong việc điều hành các hoạt động của mình.
[2] ❖ Cơ chế tự chủ tài chính Tự chủ tài chính đối với ĐVSN công lập là khái niệm bắt nguồn từ quá trình chuyển đổi mô hình quản lý theo cơ chế quản lý kế hoạch, tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Được hiểu là quyền tự chịu trách nhiệm, tự quyết định đối với việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính, nhằm duy trì hoạt động và phát triển; giảm thiểu sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước. Quan niệm tự chủ tài chính là quyền tự quyết và tự chịu trách nhiệm đối với các hoạt động tài chính của đơn vị gắn với quá trình phân cấp, trao quyền tự chủ tài chính và những quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của đơn vị đối với việc sử dụng các nguồn lực tài 1 chính của Nhà nước. Song việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động tài chính không có nghĩa là “khoán trắng” về mặt tài chính cho các đơn vị mà đơn vị phải có nghĩa vụ thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao, theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Xét trên góc độ quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính là việc cơ quan quản lý cấp trên (chủ thể quản lý) cho phép đơn vị cấp dưới (chủ thể bị quản lý) được phép chủ động điều hành, tự quyết các hoạt động tài chính trong khuôn khổ pháp luật về quản lý tài chính với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. [2] Các đơn vị tự chủ tài chính phải thực hiện tự đánh giá và tự giám sát việc thực hiện các quy định theo đúng quy định của pháp luật về quản lý tài chính và lĩnh vực khác được trao quyền tự chủ, sẵn sàng giải trình và công khai hóa các hoạt động của đơn vị mình, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị mình. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm gắn liền với nhau để nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị và đảm bảo hoạt động đó luôn đúng theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam, Cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 43), quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với các ĐVSNCL.
Trong đó ĐVSNCL được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, tạo lập và sử dụng nguồn tài chính để thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực hoạt động của mình. Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tổng hợp chung tất cả các nguồn lực, chưa có sự tách bạch rõ nguồn thu từ hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao và các hoạt động kinh doanh dịch vụ. Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 06 năm 2021 quy định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2021 với nội dung: 2 “Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công” là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện quy định về danh mục sự nghiệp công; giá, phí và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công; phân loại mức độ tự chủ tài chính; tự chủ sử dụng nguồn tài chính; tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết; quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác có liên quan.
Có thể kể đến các đơn vị sự nghiệp công lập, như: các viện nghiên cứu, trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam… Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Thứ nhất, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu, nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động[4]; phát huy tính năng động, sáng tạo, xây dựng “thương hiệu riêng” cho đơn vị mình. Thứ hai, thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước [4]. Thứ ba, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn [4].2 Cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập Cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định cụ thể tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 của Chính phủ “Quy định quyền 3 tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập”, Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 về “cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập” và gần đây nhất là Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 06 năm 2021 “Quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập”. Các Nghị định này quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với từng loại hình đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế nói riêng.
Theo đó, đơn vị sự nghiệp y tế công lập mang đặc điểm của đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ và tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động cần tuân thủ theo cơ chế tự chủ trong quản lý tài chính. Các nội dung cụ thể như sau: 1.1Tự chủ trong quản lý nguồn thu của đơn vị sự nghiệp y tế công lập a) Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp y tế công gồm: * Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp Đơn vị muốn nhận được kinh phí phải tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các quy định của Luật Ngân sách Nhà nước từ khâu lập, chấp hành đến quyết toán nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) cấp. Đơn vị chỉ được cấp kinh phí NSNN khi có trong dự toán được duyệt, chi đúng tiêu chuẩn định mức, có đầy đủ hồ sơ chứng minh việc chi tiêu của đơn vị. Đây chính là nét đổi mới trong việc quản lý và điều hành ngân sách so với cơ chế cũ.
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên khả năng đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên để từ đó có cơ sở cấp ngân sách là một biện pháp nhằm giảm bớt gánh nặng cho NSNN đồng thời tăng cường tính chủ động cho các đơn vị sự nghiệp có thu. * Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp Nguồn thu chính hiện nay của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập là từ phí y tế và nhân tố ảnh hưởng lớn đến nguồn thu này chính là mức thu phí. - Phần được để lại từ số thu phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước; - Thu từ hoạt động dịch vụ; 4 - Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có). * Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho (nếu có) theo quy định của pháp luật.
* Nguồn khác theo quy định của pháp luật: - Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị… - Nguồn vốn tham gia liên doanh liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. [4] b) Đơn vị được tự chủ các khoản thu và mức thu theo quy định như sau: - Đơn vị sự nghiệp y tế công lập được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không vượt quá khung mức thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.