Chương 1: Dẫn nhập. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan những nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Thực hiện tự chủ của Bệnh viện Từ Dũ.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Kết luận chung 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này, tác giả trình bày các khái niệm về tự chủ, phạm quản lý bệnh viện, chất lượng dịch vụ y tế, trách nhiệm xã hội; nêu rõ tại sao thực hiện tự chủ, lợi ích của tự chủ và nguy cơ của tự chủ; khung phân tích và các chỉ tiêu đánh giá; lược khảo các nghiên cứu liên quan và vấn đề tự chủ tại Việt Nam.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Tự chủ Có nhiều khái niệm về tự chủ bệnh viện nhưng trong phạm vi bài nghiên cứu này tác giả chỉ trích dẫn một số khái niệm sau: Tự chủ bệnh viện là mức độ ra quyết định phân cấp xảy ra trong bệnh viện và mức độ ra quyết định như vậy là khả thi đối với từng chức năng quản lý. Chức năng quản lý bao gồm: quản lý chiến lược, quản lý mua sắm, quản lý tài chính, quản lý nguồn nhân lực, quản lý hành chính (Chawla, Mukesh et al,1996). Tự chủ bệnh viện là quá trình thực hiện khi các cơ quan y tế của chính quyền trung ương tham gia quá trình chuyển giao quyền hạn hoạt động cho các bệnh viện thuộc sở hữu Nhà nước và được điều hành với mục đích nâng cao hiệu quả và chất lượng chăm sóc (Bethesda, MD, 2010).
Tự chủ bệnh viện nhằm nâng cao việc tự quản lý của bệnh viên công trong khi đó vẫn giữ quyền sử hữu và trách nhiệm quản lý của chính phủ (Jonathan D. Trong các văn bản quy phạm của Việt Nam không có khái niệm nào về tự chủ bệnh viện. Tác giả dựa vào hiểu biết của mình thông qua các quy định của pháp luật, như Nghị định 10/2002/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp, đưa ra khái niệm tự chủ của các bệnh 6 viện công lập hiện nay tại Việt Nam là: Tự chủ là các bệnh viện được quyền quyết định và chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của bệnh viện mình. Bệnh viện tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, sử dụng các kết quả tài chính và ngược lại bệnh viện có mức tự chủ thấp hơn về nguồn tài chính thì được tự chủ thấp hơn về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, sử dụng các kết quả tài chính.
Như vậy, mức độ tự chủ về tài chính là nội dung quyết định các nội dung về thực hiện tự chủ nhiệm vụ, tự chủ tổ chức bộ máy, tự chủ nhân sự và sử dụng kết quả tài chính đạt được và mang tính chất quyết định phần lớn đến đến kết quả hoạt động của bệnh viện.2 Tại sao tự chủ Một sự thúc đẩy chính để thực hiện tự chủ là tính không hiệu quả có thể thấy được của hệ thống bệnh viện được cấp tài chính từ ngân sách và quản lý tập trung theo cách mà nó có thể ngăn chặn tư nhân hóa trong ngắn hạn và bảo vệ được sứ mạng xã hội của hệ thống chăm sóc sức khỏe công lập (Preker và Harding, 2003). Thông thường, tự chủ bệnh viện xảy ra trong bối cảnh của cuộc cải cách giảm thiểu tập quyền, bao gồm cả những lý do khác nhau từ tính hiệu quả đến tính thiết thực về mặt chính trị (Lieberman.Capuno và Van Minh, 2005).3 Lợi ích của tự chủ Bệnh viện tự chủ hơn sẽ thi hành các quyết định nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ (Harding & Preker, 2000). Có thể hiểu được rằng chất lượng dịch vụ được cải thiện sẽ giúp tăng doanh thu bằng cách thu hút bệnh nhân, xúc tiến hỗ trợ của chính phủ và đầu tư. Cũng có thể hiểu rằng, kết hợp với việc tăng khoản chi trả từ bảo hiểm, bệnh viện huyện có thể giảm bớt việc chuyển viện và thực hiện các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát triển kĩ năng bằng những phương thức mà trước đây không làm được.
Khu vực thành thị có cơ hội tăng doanh thu từ tự chủ hóa cao hơn vì người dân có thu nhập tương đối cao hơn. Bên cạnh việc tăng doanh thu bằng việc đưa vào các dịch vụ theo yêu cầu của bệnh nhân và các biện pháp tiết kiệm chi phí. 7 Một cơ chế có thể là việc tự chủ hóa cho phép các bệnh viện đưa ra quyết định tốt hơn trong những lĩnh vực quan trọng đối với chất lượng chăm sóc. Họ có thể thuê nhân viên mới, mua thiết bị mới,.
Theo nghĩa này, tự chủ hóa có thể được kỳ vọng sẽ dẫn đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc (Adam Wagstaff & Sarah Bales, 2012).4 Nguy cơ của tự chủ Các nhà phê bình đã hạ thấp những đóng góp tiềm năng của chính quyền đối với hiệu suất, đồng thời nhấn mạnh những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng, chi phí và vốn sở hữu (Homedes & Ugalde, 2005). Do đó, có thể dự đoán tính tự chủ cao hơn sẽ làm tăng tỉ lệ chuyển viện bệnh nhân, tăng các quy trình chẩn đoán không cần thiết, thời gian lưu trú trung bình dài hơn và các biện pháp tối đa hóa thu nhập khác nhau. Theo cách này, tự chủ hóa có thể làm những mối nguy đạo đức về bảo hiểm y tế trầm trọng thêm (Sepehri, Simpson & Sarma, 2006). Hậu quả tiêu cực tiềm ẩn của cải cách như gánh nặng tài chính đối với người nghèo (Harding & Preker, 2003) 2.2 Cơ sở lý thuyết Các yếu tố chính tạo nên giá trị của một tổ chức nói chung đó là (1) Công tác quản lý; (2) Chất lượng dịch vụ và (3) Trách nhiệm xã hội.
Vì vậy, tác giả trình bày các nội dung của các yếu tố trên tại bệnh viện như sau: 2.1 Quản lý bệnh viện Quản lý bệnh viện là việc phân công/điều hành/phối hợp hài hòa giữa các thành viên với các công việc và nguồn lực trong bệnh viện để hoàn thành một cách hiệu quả các nhiệm vụ, mục tiêu, các kế hoạch,… đã được bệnh viện lập ra. Quản lý bệnh viện được thực hiện theo thẩm quyền của chủ sở hữu. Việc phân cấp thẩm quyền, tức các quyền quyết định quan trọng của chủ sở hữu được chuyển giao cho quản lý, có thể bao gồm kiểm soát đầu vào, lao động, phạm vi hoạt động, quản lý tài chính, quản lý lâm sàng và quản lý phi hành chính, quản lý chiến lược (xây dựng các mục tiêu thể chế), cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh,… làm cho quản lý bệnh viện đóng một vai trò rất quan trọng để phát triển bệnh viện. 8 Nhiều nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề trong hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ công cộng đã được thực hiện thông qua cải cách quản lý.
Các cải cách này bao gồm các nỗ lực để tăng cường chuyên môn quản lý của các nhà quản lý ngành y tế thông qua đào tạo nhân viên và thông qua thay đổi chính sách tuyển dụng để thu hút các kỹ năng quản lý. Thông thường, những nỗ lực này được đi kèm với việc cải tiến các hệ thống thông tin để tạo điều kiện ra quyết định hiệu quả. Các giám đốc lâm sàng đã được tạo ra trong một số hệ thống, và đã có những đánh giá về hiệu suất của phòng ban. Thường xuyên, những nỗ lực để giới thiệu tái cấu trúc quy trình kinh doanh, chăm sóc tập trung vào bệnh nhân, hoặc các kỹ thuật nâng cao chất lượng.
Tuy nhiên, việc thực hiện các hoạt động quản lý mới này đã bị ức chế bởi bối cảnh của khu vực công, Các tổ chức tư nhân đã đưa ra các chính sách tuyển dụng và bồi thường, dựa trên các kỹ thuật quản lý nhân sự tốt nhất để tìm kiếm và thúc đẩy những người có thành tích cao. Các ràng buộc về dịch vụ dân sự đã cản trở hoặc làm suy yếu nỗ lực áp dụng các phương pháp này vào hệ thống bệnh viện công. Một rào cản quan trọng trong việc áp dụng các nguyên tắc thực hành tốt nhất từ khu vực tư nhân là thiếu kiểm soát mà các nhà quản lý khu vực công đã có qua các yếu tố sản xuất, đặc biệt là lao động. Do đó, mặc dù đôi khi các phương pháp phục hồi các tổ chức tư nhân đã được chuyển giao thành công cho các bệnh viện công và các hệ thống, thường thì những trở ngại chung của các cơ chế kiểm soát khu vực công đã làm nản lòng những nỗ lực này.
Thực tế, các nỗ lực áp dụng các nguyên tắc quản lý khu vực tư nhân để cung cấp dịch vụ y tế công cộng đã góp phần thúc đẩy cải cách tổ chức. Các chuyên gia đã xác định được các thành phần để quản lý tốt bệnh viện: - Mục tiêu: Các mục tiêu phải được các nhà quản lý xác định một cách rõ ràng, nhất quán và có thể đo lường được để thực hiện quản lý. Trong các công ty tư nhân (vì lợi nhuận), các nhà quản lý có thể được giám sát một cách dễ dàng vì chủ sở hữu có hai mục tiêu rõ ràng - tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa giá cổ phiếu, cả hai tiêu chí này đều có thể quan sát và đo lường được. 9 - Cơ chế giám sát: Trách nhiệm quản lý giám sát được trao cho một cơ quan chuyên nghiệp hiệu quả, có quy định rõ vai trò và nhiệm vụ, có năng lực chuyên môn.
- Trách nhiệm giải trình: Thực hiện giải trình các nội dung rõ ràng như thông qua thực hiện các cơ chế tài trợ/thanh toán và các cơ chế điều tiết, công khai báo cáo tài chính và hoạt động hàng năm của bệnh viện. Sự quản lý việc làm và tiền lương có thể được gắn với hiệu suất.2 Chất lượng dịch vụ y tế Chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ dựa vào sự nhận thức hay sự cảm nhận của khách hàng về những nhu cầu cá nhân của họ. Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau như marketing, y tế, giáo dục, dịch vụ ngân hàng,.
về chất lượng dịch vụ đã được thực hiện trên thế giới nhằm tìm hiểu về bản chất của khái niệm dịch vụ và chất lượng dịch vụ.