Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tong quan về tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Bệnh viện công lập được chính phủ các nước, đặc biệt là các nước phát triển xây dựng và quản lý từ rất lâu. Bệnh viện công lập có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tất cả các nước.
Tuy nhiên, vấn đề kinh phí cho bệnh viện hoạt động luôn là vấn đề nan giải của các quốc gia. Trong một nghiên cứu tại Hoa kỳ về tài chính của bệnh viện công lập, Stiglitz (1995) cho rằng tính hiệu quả và tính công bằng trong hoạt động của bệnh viện là vấn đề quan trọng, cần được ưu tiên giải quyết. Dé giải quyết van dé trên, quan lý tài chính đối với bệnh viện công lập phải tính đến nhiều mối quan hệ phức tạp giữa Chính phủ với bệnh viện, giữa bệnh viện với người dân. Đặc biệt là mối quan hệ phức tạp nhưng hữu cơ gitra sự vận hành theo cơ chế thị trường và sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của bệnh viện.
Đây được xem là cách tiếp cận mang tính tổng quát về tài chính ở bệnh viện công lập vận hành theo nền kinh tế thị trường. Để giải quyết bài toán về tài chính cho các bệnh viện, đã có nhiều nghiên cứu liên quan nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của bệnh viện. Khi xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của bệnh viện thì các cấp quản lý có thé lựa chọn mô hình quản lý bệnh viện phù hợp với tình hình tài chính của từng bệnh viện cũng như tình hình thực tế về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Trong một nghiên cứu tai Hy Lạp về các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc chi phí của bệnh viện, Thanasas (2013) đã tiền hành nghiên cứu tat cả các chi phí hoạt động bao gồm chi phí tiêu hao vật tư, chi phí thuốc và vật liệu y khoa, chi phí phục vụ phòng xét nghiệm, chi phí phục vụ, vệ sinh và chi phí cơ sở vật chat, chi cho nhân sự và các khoản chi hợp lý khác.
Theo đó, các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến chi phí hoạt động của bệnh viện là số bệnh nhân khám, điều trị và thời gian lưu trú ở bệnh viện. Nghiên cứu về tự chủ tài chính của bệnh viện tự chủ tài chính ở Nhật Bản, Ikegami (2013) đã chỉ ra rằng nguồn thu của tất cả các bệnh viện đều từ việc cung cấp dịch vụ trên cơ sở thu phí dịch vụ, nhà nước chỉ nên quy định mức phí và điều kiện thanh toán. Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế tự chủ của bệnh viện công lập, đặc biệt là cơ chế tự chủ tài chính. Jonathan, 2013 đã sử dụng phương pháp nghiên cứu khuôn khổ không gian quyết định, thiết kế bảng câu hỏi và phỏng van nhằm tìm hiểu các bệnh viện đã thực hiện tự chủ như thé nao với quyền tự chủ được nhà nước trao.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở các bệnh viện cấp tỉnh việc tự chủ đã tạo điều kiện tổ chức lại các dịch vụ, tăng đầu tư và thu nhập, cải thiện đời sống của nhân viên. Trong khi đó ở bệnh viện tuyến huyện ít có cơ hội áp dụng cơ chế tự chủ vì đặc thù vị trí địa lý và mức sống của người dân cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ. Tự chủ đã góp phần thúc đây các dịch vụ với chỉ phí và phân tầng xã hội tăng lên do thiếu cơ chế cụ thể nên một số bệnh viện đã mở rộng các dịch vụ có tính thương mại trong bệnh viện (London, Jonathan D, 2013). Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, ngay từ những năm của thập niên 1990 đã có những nghiên cứu về đôi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu, trong đó có bệnh viện công lập.
Trong thời kỳ nền kinh tế của đất nước chuyền đổi sang cơ chế kinh tế thị trường thì việc đánh giá tổng quát về cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp về thực trạng và tình hình quản lý là rất quan trọng. Theo đó, tại các đơn vị sự nghiệp công lập có thu đang tồn tại nhiều bất cập và hạn chế. Đặc biệt cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập chưa thống nhất, chưa phù hợp với các loại hình hoạt động sự nghiệp (Tran Thu Ha, 1997). Sau thời gian triển khai tự chủ tài chính đối với các bệnh viện công lập, Ngân hàng thế giới đã phối hợp với Bộ y tế để có những nghiên cứu, đánh giá và phân tích về chính sách tự chủ bệnh viện ở Việt Nam.
Kêt quả nghiên cứu đã cung câp cho các cơ quan quan lý cái nhìn tong quan về thành tựu và cả hạn chế khi thực hiện tự chủ bệnh viện. Theo đó, cơ chế tự chủ tài chính đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của bệnh viện công lập thể hiện qua tổng nguồn thu của các bệnh viện tăng nhanh qua các năm mặc dù tỷ trọng nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động thường xuyên giảm ở tat các bệnh viện các tuyến. Ngoài ra, vôn đầu tư vào bệnh viện tăng lên, nhất là trang thiết biy tế, mở rộng các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh và tăng năng suất sử dụng giường bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra điểm tích cực khác là số lượt khám chữa bệnh và nhập viện tăng lên ở các tuyến, lãnh đạo bệnh viện đã thực hiện giảm chi phí va sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực ké cả nhân lực.
Tuy nhiên, khảo sát cũng cho thấy những thay đổi tích cực đã không diễn ra đồng đều giữa các bệnh viện. Mặt khác, hạn chế của cơ chế tự chủ là gia chi phí điều trị mà người bệnh phải trả, quá tải ở các bệnh viện tuyến trên và sự dịch chuyền nhân sự từ tuyến dưới lên tuyến trên và làm thiếu hụt nhân sự ở các bệnh viện vùng khó khăn, nông thôn. Một hạn chế được nghiên cứu chỉ ra là cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ nên gây khó khăn cho bệnh viện khi thực hiện tự chủ. Tại Thành phố Hồ Chí Minh , một số nghiên cứu đã đánh giá kết quả thực hiện tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập là tích cực và đạt được các mục tiêu của tự chủ tài chính đối với bệnh viện.
Tại bệnh viện Từ Dũ, nghiên cứu đã kết luận bệnh viện thực hiện tốt công tác tự chủ, đặc biệt là tự chủ tai chính toàn phần theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ. Bệnh viện đã thực sự hoạt động một cách hiệu quả và chất lượng khám chữa bệnh rất tốt, đồng thời vẫn thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của một đơn vị mang sứ mệnh chăm sóc sức khỏe người dân và đảm bảo công bằng cho tất cả bệnh nhân, đảm bảo an sinh xã hội (Đinh Thị Hoài Thanh, 2017). Trong một nghiên cứu về tình hình tự chủ tài chính của các bệnh viện công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh , Nguyễn Thanh Hiền (2020) đã đưa ra kết luận tích cực về kết quả đạt được sau quá trình tự chủ tài chính của bệnh viện. Theo đó, các bệnh viện đã chủ động hơn trong quản lý các nguồn thu chỉ và phát huy tối đa quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm dé tăng nguồn thu, tiết kiệm hiệu quả.
Chất lượng khám chữa bệnh và triển khai các dịch vụ công trong y tế được nâng cao. Nhờ thực hiện tự chủ, bệnh viện đã cơ cấu lại bộ máy, định hướng phát triển nguồn nhân lực và có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển của bệnh viện. Ngoài ra, bệnh viện còn có thể huy động vốn, mua sắm được các trang thiết bị hiện đại, tạo điều kiện cho người dân được khám chữa bệnh với kỹ thuật cao. Đời sống của cán bộ, nhân viên được cải thiện rõ rệt thông qua thu nhập của nhân viên bệnh viện được tăng lên so với trước khi tự chủ (Nguyễn Thanh Hiền, 2020).
Kết luận tổng quan và đúc rút hướng nghiên cứu Tự chủ tài chính là xu thế tất yếu và hướng đi đúng đắn mà các bệnh viện trong và ngoài nước đang áp dụng. Tự chủ tai chính đã mang lại cho các bệnh viện cơ chế chủ động trong việc quyết định các khoản thu, khoản chi và tính toán chi phí hợp lý cho công tác khám chữa bệnh. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai tự chủ tài chính ở các đơn vi. Tự chủ tài chính ở các bệnh viện công lập ngoài việc tăng nguồn thu cho bệnh viện, phải đảm bảo công tác an sinh xã hội và thực hiện đúng chức năng khám chữa bệnh cho người dân, đặc biệt là người yếu thế trong xã hội.
Đối với các bệnh viện công lập thực hiện cơ chế tự chủ thì quản lý tài chính là nội dung quan trọng bậc nhất. Đề công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ thành công phải được tiễn hành cùng với quá trình đổi mới toàn diện hoạt động của bệnh viện và đối mới phương pháp quản lý cung ứng dich vụ y tế theo luật khám chữa bệnh và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, hiện nay công tác tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập còn gặp nhiều khó khăn như chính sách ban hành chưa phù hợp với thực tế, thiếu sự đồng bộ làm cho bệnh viện luôn ở trạng thái bị động, chờ đợi các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo. Một số bệnh viện chưa phát huy hết khả năng để cung cấp dịch vụ chất lượng cao, tăng nguồn thu hợp pháp và gia tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức bệnh viện.
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến tự chủ tài chính, đặc biệt đối với các bệnh viện công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, đối với Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức, đơn vi đã thực hiện tự chủ tài chính từ nắm 2018 đến nay chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện đề đánh giá kết quả của tự chủ tài chính. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu liên quan, căn cứ tình hình thực tế và trong khuôn khổ đề tài, thông qua đó đánh giá kết quả thực hiện tự chủ tài chính của bệnh viện là cần thiết và có tính thực tiễn cao. Tổng quan về bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức 1.