phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp công lập Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong điều kiện tự chủ tài chính Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong điều kiện tự chủ tài chính 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập và cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010 quy định về đơn vị sự nghiệp công lập như sau: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Căn cứ theo Nghị định 16/2015: Theo Điều 2, Điểm 1 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước” Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống hằng ngày bởi hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập nhằm nhằm mục đích cung cấp những dịch vụ công thiết yếu cho việc bảo đảm phục vụ nhu cầu của người dân trong các lĩnh vực như văn hóa, du lịch, y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác.
Như vậy, Đơn vị sự nghiệp công lập chính là các tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật có tư cách pháp nhân, cung cấp các dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, lao động – thương binh và xã hội, thông truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Có nhiều tiêu thức phân loại đơn vị sự nghiệp công lập, có thể tiếp cận theo tiêu chí phân loại sau: 5 Thứ nhất, phân loại theo chức năng, nhiệm vụ - Đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ quản lý nhà nước Các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập để thực hiện nhiệm vụ theo nhóm này, sẽ được xác định rõ chức năng “phục vụ quản lý nhà nước” trong văn bản quy phạm pháp luật thành lập tổ chức mà đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc. - Đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN và đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế-dân số; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác (gồm: nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, công thương, xây dựng, tư pháp, lao động thương binh và xã hội, sự nghiệp khác) Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN là dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu và dịch vụ sự nghiệp công mang tính đặc thù của một số ngành, lĩnh vực thuộc danh mục do cấp có thẩm quyền ban hành, được Nhà nước bảo đảm kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện. Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN gồm: các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu theo quy định của pháp luật chuyên ngành và pháp luật về NSNN, gồm: các dịch vụ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; y tế dự phòng, y tế cơ sở, bệnh viện ở vùng khó khăn, biên giới, hải đảo; khám, chữa các bệnh phong, lao, tâm thần; nghiên cứu khoa học cơ bản; văn hóa, nghệ thuật dân gian truyền thống, đào tạo huấn luyện vận động viên, huấn luyện viên thể thao quốc gia; chăm sóc người có công và bảo trợ xã hội… Dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN là dịch vụ sự nghiệp công được thực hiện theo phương thức xã hội hóa; giá dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường do đơn vị tự định giá hoặc do Nhà nước định giá theo quy định của pháp luật về giá hoặc pháp luật chuyên ngành khác có liên quan, bù đắp đủ chi phí và có tích lũy hợp lý cho đơn vị cung cấp; Nhà nước không hỗ trợ chi phí.
Dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN gồm: dịch vụ không thuộc danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN; dịch vụ do đơn vị sự nghiệp 6 công lập cung cấp từ hoạt động sản xuất – kinh doanh, liên doanh liên kết phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của đơn vị để đáp ứng nhu cầu của xã hội theo quy định của pháp luật có liên quan. Đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ sử dụng tài sản và các nguồn lực ở đơn vị để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN, phù hợp với lĩnh vực chuyên môn được cấp có thẩm quyền giao theo nguyên tắc: thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Được quyết định giá dịch vụ bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy hợp lý; trường hợp dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì thực hiện theo mức giá cụ thể, khung giá do cơ quan có thẩm quyền quy định. Đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ quyết định các khoản chi để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công bảo đảm tính hợp lý, hợp lệ và phải quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ.
Thứ hai, phân loại theo mức độ tự chủ về tài chính - Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; - Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; - Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; - Đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Thứ ba, phân loại theo ngành, lĩnh vực hoạt động thì đơn vị sự nghiệp công lập - Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế - Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo - Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực thể thao và du lịch - Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ - Đơn vị sự nghiệp công lập thông tin và tuyên truyền - Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực kinh tế và đơn vị sự nghiệp khác Thứ tư, phân loại theo chủ thể quản lý: - Đơn vị sự nghiệp công lập do Trung ương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học do Trung ương quản lý,… - Đơn vị sự nghiệp công lập do địa phương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình tinh, thành phố, các bệnh viện, trường học do địa phương quản lý. Theo tác giả với mỗi cách phân loại trên có thể xác định được vị trí, lĩnh vực hoạt động và cơ chế tài chính mà đơn vị đó thực hiện tuân thủ. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Đặc điểm hoạt động của các đơn vị SNCL rất đa dạng do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, các đơn vị SNCL dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm cơ bản như sau: - Thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - Mục đích hoạt động của các đơn vị SNCL là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng. Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị SNCL tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường.
Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân. - Sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững, lâu dài cho xã hội. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động SNCL tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, đạo đức, xã hội,… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng. Mặt khác sản phẩm của các hoạt động SNCL chủ yếu là các “hàng hóa công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình tái sản xuất xã hội.
Hàng hoá công cộng có hai đặc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh (non-rival) và không loại trừ (non-excludable). Nói cách khác, đó là những hàng hóa mà nếu có một người tiêu dùng một hàng hóa thì trong cùng một lúc không làm cho người khác phải ngừng tiêu dùng hàng hóa đó và tiêu dùng của người này không loại trừ việc tiêu dùng của người khác. Nhờ việc sử dụng những “hàng hóa công cộng” do hoạt động SNCL tạo ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao.