CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1. KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Quá trình ra đời và phát triển của kế toán quản trị 1. Trên thế giới Trên thế giới, kế toán quản trị đã trải qua bốn giai đoạn phát triển.
Mỗi giai đoạn có những nội dung tương ứng khác nhau (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2013). Giai đoạn 1: Trước năm 1950 Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, những nền tảng cho sự ra đời của kế toán quản trị đã xuất hiện. Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, hoạt động kinh doanh trở nên phức tạp và công việc của kế toán bùng nổ đáng kể. Điều này bắt buộc người làm công tác kế toán phải biết đơn giản hóa thông tin, cung cấp thông tin kịp thời để kiểm soát chi phí và định giá bán sản phẩm, đồng thời người chủ kinh doanh đã biết sử dụng dữ liệu kinh tế trong quá khứ để lập dự toán cho kỳ hoạt động kế tiếp.
Tuy lúc này thuật ngữ “kế toán quản trị” chưa xuất hiện nhưng nó được tiềm ẩn trong thuật ngữ “kế toán chi phí”, và chỉ mới dừng lại ở nội dung tính toán chi phí, xác định giá thành, kiểm soát tình hình tài chính doanh nghiệp. Giai đoạn 2: Từ năm 1956 đến cuối năm 1980 Từ năm 1956 đến cuối năm 1980 là giai đoạn đánh dấu cho sự ra đời của kế toán quản trị, nhiều công cụ kế toán quản trị đã được phát triển. Nội dung của kế toán quản trị hướng đến việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích để ra quyết định và kế toán trách nhiệm. Tuy nhiên kế toán quản trị trong giai đoạn này chỉ là sự định hình các nội dung kế toán quản trị đã có từ trước cũng như chỉ hướng đến việc giải quyết những vấn đề truyền thống như tăng lợi nhuận và tăng tính hiệu quả mà chưa quan tâm đến những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Điều này đã khiến cho kế toán quản trị chưa phát huy được hết vai trò của mình. 10 Giai đoạn 3: Từ năm 1980 đến cuối năm 1995 Đây là giai đoạn phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, sự toàn cầu hóa của nền kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp,… Trước bối cảnh đó, kế toán quản trị đòi hỏi phải có sự đổi mới để thích nghi với môi trường kinh doanh mới, làm sao để phục vụ tốt nhất cho các chức năng của nhà quản trị. Chính điều này đã buộc kế toán quản trị trở thành một bộ phận độc lập với kế toán tài chính, hình thành nên ngành kế toán quản trị riêng biệt. Kế toán quản trị giai đoạn này tập trung vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc sử dụng những kỹ thuật phân tích quá trình và chuyển từ kế toán chi phí sang quản trị chi phí.
Giai đoạn 4: Từ năm 1995 đến nay Trong giai đoạn này, kế toán quản trị hướng đến việc tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng, giá trị cho cổ đông, sự thay đổi trong quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ và học hỏi – phát triển. Ngày nay, kế toán quản trị là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho chiến lược của các doanh nghiệp vì kế toán quản trị không những đóng góp vào việc xây dựng và thực hiện chiến lược thông qua việc lập các kế hoạch ngắn, dài hạn và kiểm soát việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp có hiệu quả hay không; mà kế toán quản trị còn đóng góp vào việc cải thiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thông qua việc hạ thấp chi phí và tạo ra những sản phẩm khác biệt. Tại Việt Nam Giai đoạn trước năm 1986 Đây là giai đoạn mà ở Việt Nam hiện diện một cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp với thành phần chủ yếu là các đơn vị kinh tế của Nhà nước. Nhà nước can thiệp sâu sắc vào mọi hoạt động của các đơn vị kinh tế này bằng hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, hoàn toàn không có thị trường hay cạnh tranh.
Các đơn vị kinh tế hoạt động theo các chỉ tiêu kinh tế, tài chính do Nhà nước quy định. Do đó hệ thống kế toán của các đơn vị chỉ mang đặc điểm của kế toán tài chính với nội dung cung 11 cấp thông tin kinh tế, tài chính phục vụ cho mục đích kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của Nhà nước đối với các đơn vị này. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1991 Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh Xã hội Chủ nghĩa. Điều này đã bước đầu tạo ra những thay đổi trong chính sách kế toán của Việt Nam.
Hệ thống báo cáo của các đơn vị kinh tế đã giảm dần tính bắt buộc mà thay vào đó có tính hướng dẫn về các báo cáo phục vụ các chức năng quản trị. Tuy nhiên do vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của kế toán thời kỳ tập trung, bao cấp nên vẫn chưa hội tụ đủ những điều kiện để kế toán quản trị ra đời. Giai đoạn từ năm 1991 đến nay Từ năm 1991 đến nay, Việt Nam đã tiến hành xây dựng, phát triển và hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường. Cơ cấu các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trở nên cân bằng hơn, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt.
Điều này buộc nước ta phải thay đổi chính sách kế toán cho phù hợp với xu thế mới của thời đại. Kế toán quản trị chính thức được công nhận trong Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 17/06/2003, tiếp theo đó là việc cho ra đời Thông tư 53/2006/TT – BTC về việc hướng dẫn kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Kế toán quản trị bắt đầu trở thành nhu cầu bức thiết đối với hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Khái niệm kế toán quản trị Trên thế giới, kế toán quản trị có một bề dày lịch sử khá lâu đời nên các khái niệm về kế toán quản trị cũng rất phong phú.
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998 trích trong Huỳnh Lợi (2008): “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện 12 hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp”. Theo từ điển thuật ngữ kế toán của Mỹ trích trong Phạm Văn Dược, Trần Văn Tùng (2011): “Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cho các nhà quản trị trong quá trình ra các quyết định liên quan đến hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”. Theo Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa Kỳ trích trong Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2013): “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”. Trong khi đó, ở Việt Nam, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà khái niệm kế toán quản trị hình thành và phát triển chưa được bao lâu.
Có thể kể đến khái niệm về kế toán quản trị tại Khoản 3, Điều 4 của Luật kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17 tháng 06 năm 2003: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Như vậy, có khá nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị nhưng có thể rút ra được những điểm chung về kế toán quản trị từ các khái niệm trên như sau: - Là quá trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin (bao gồm thông tin tài chính và phi tài chính). - Giúp các nhà quản trị hoạch định, đánh giá, kiểm soát hoạt động bên trong tổ chức. - Mục tiêu cuối cùng là sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế của tổ chức đó.
Vai trò của kế toán quản trị Từ những khái niệm về kế toán quản trị cho thấy vai trò của kế toán quản trị tương ứng với từng chức năng của nhà quản trị (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2013): 13 - Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng hoạch định: là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đối thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật,… Thông tin do kế toán quản trị cung cấp rất quan trọng trong việc truyền đạt và hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. - Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng tổ chức – điều hành: là cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hằng ngày trong doanh nghiệp. Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lượng của các hoạt động đã và đang được thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời điều chỉnh và tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp.