phần mở đầu và kết luận, phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về tổ chức công tác kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Trƣờng Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Trƣờng Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong. 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1.
Khái niệm và phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp 1. Khái niệm Dựa trên nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ của đơn vị hành chính sự nghiệp, giáo trình “ Kế toán công trong đơn vị hành chính- sự nghiệp” của Trường đại học Kinh tế quốc dân có đưa ra khái niệm:“ Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vụ được Nhà nước cấp kinh phí toàn bộ hoặc đơn vị tự đảm bảo một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí. Dựa trên chức năng nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụ công, giáo trình “ Quản lý tài chính công” của Học viện tài chính đưa ra khái niệm: “ Các đơn vị sự nghiệp nhà nước là các đơn vị thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và dịch vụ nhằm duy trì hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Hoạt động của các đơn vị này không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu mang tính chất phục vụ” [15, tr.
Cũng tiếp cận theo chức năng nhiệm vụ và khả năng thu của đơn vị, Giáo trình “ Quản trị tài chính đơn vị hành chính, sự nghiệp” của trường Đại học Lao động xã hội có nêu: “ Các đơn vị hành chính sự nghiệp là các đơn vị được thành lập để cung cấp các dịch vụ công cộng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng. Căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chi hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp các đơn vị hành chính sự nghiệp được chia thành: Đơn vị HCSN có nguồn thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí cho hoạt động thường xuyên, đơn vị HCSN có nguồn thu sự nghiệp thấp, …” [24, tr. Theo Khoản 2- Điều 1 của Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì “ Đơn vị sự nghiệp do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nước”. 13 Theo Khoản 1- Điều 2 của Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017, “ Cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập, trừ các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp, áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định hiện hành; tổ chức, đơn vị khác có hoặc không sử dụng ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là đơn vị hành chính, sự nghiệp)”.
Như vậy, các khái niệm về đơn vị HCSN được trình bày trong các giáo trình và văn bản pháp luật đều mang điểm chung là: - Đơn vị HCSN là các đơn vị do nhà nước thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hoặc phục vụ cho mục đích quản lý của nhà nước. - Mục tiêu là cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. - Nguồn kinh phí của đơn vị HCSN là do NSNN cấp toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại dùng khoản thu để bù đắp chi phí, cơ chế thu, chi phải chấp hành quy định của pháp luật. Phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp 1.
Căn cứ theo nguồn kinh phí tài trợ hoạt động Đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí từ NSNN: là các cơ quan thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN như văn phòng Quốc hội, Chính phủ, Viện kiểm soát, đơn vị sự nghiệp công lập, bán công, tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp có sử dụng kinh phí NSNN… - Đơn vị sự nghiệp, tổ chức không sử dụng kinh phí từ NSNN: như đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội- nghề nghiệp tự thu chi… 1. Căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chi hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp - Đơn vị sự nghiệp có nguồn thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí cho hoạt động thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đủ trang trải được toàn bộ kinh phí cho hoạt động thường xuyên, Nhà nước không phải cấp kinh phí cho hoạt động của các đơn vị này. 14 - Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần kinh phí cho hoạt động thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa đủ để trang trải toàn bộ chi phí cho hoạt động thường xuyên của mình, Nhà nước phải cấp một phần ngân sách cho hoạt động thường xuyên của đơn vị. Mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của các đơn vị này từ 10% đến dưới 100% ví dụ như các trường đại học công lập, bệnh viện,… - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, hoặc không có nguồn thu được Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).
Các đơn vị sự nghiệp loại này có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống. Theo quan điểm trên tiêu chí để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập là mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp, được xác định bằng công thức sau: Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thường xuyên = ------------------------------------------- x 100 % của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên Tổng nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định. Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động - Các đơn vị sự nghiệp giáo dục gồm: Các trường học từ mầm non đến đại học (không bao gồm các trường tư). - Các đơn vị sự nghiệp y tế bao gồm: Các bệnh viện, các cơ sở khám, chữa bệnh, các trung tâm y tế dự phòng (không bao gồm các bệnh viện tư).
- Các đơn vị sự nghiệp văn hoá, thể thao bao gồm các viện nghiên cứu về văn hóa, thể thao, các đoàn nghệ thuật, trung tâm chiếu phim, nhà văn hoá, thư viện, bảo tồn bảo tàng, đài phát thanh truyền hình, trung tâm thông tin, báo chí xuất bản, các trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, câu lạc bộ thể dục thể thao, v. 15 - Các đơn vị sự nghiệp kinh tế bao gồm các đơn vị sự nghiệp hoạt động hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển kinh tế như các viện nghiên cứu kinh tế, các trung tâm nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi. Căn cứ theo cơ chế quản lý tài chính - Đơn vị hành chính, sự nghiệp thuần túy không thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính. - Đơn vị hành chính, sự nghiệp thuần túy có thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính.
- Đơn vị sự nghiệp hoạt động theo cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu. Căn cứ theo phân cấp dự toán NSNN - Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do các cấp chính quyền giao, phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc. - Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III, tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới. - Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách, nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II), có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp dưới (nếu có).
Đơn vị dự toán cấp III là các đơn vị dự toán cấp cơ sở trực tiếp chi tiêu kinh phí để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của mình, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quản lí kinh phí tại đơn vị dưới sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp trên. 16 - Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp III: là đơn vị được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I. Đặc điểm hoạt động và quản lý tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp 1. Đặc điểm hoạt động Khái niệm về đơn vị hành chính sự nghiệp cũng đã bao hàm những đặc điểm về hoạt động của những đơn vị này.
Theo đó, hoạt động của đơn vị hành chính mang 3 đặc điểm như sau: Một là, ĐVHCSN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hoặc quản lý nhà nước về một hoạt động nào đó. Hai là, mục đích hoạt động của các ĐVHCSN là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường. Sản phẩm của các ĐVHCSN tạo ra là “ hàng hóa công cộng”, là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều đối tượng trên phạm vị rộng, mang lại lợi ích có tính bền vững, lâu dài cho xã hội.