CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) là những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực phi lợi nhuận, được tài trợ chủ yếu bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN), nguồn phí, lệ phí được khấu trừ để lại và một số nguồn khác để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do nhà nước giao, bao gồm: Cơ quan hành chính nhà nước (Đơn vị hành chính) và cung cấp dịch vụ công cho xã hội (Đơn vị sự nghiệp). Theo giáo trình Quản trị tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp thì đơn vị sự nghiệp là “đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội. Các đơn vị này được Nhà nước cấp kinh phí và hoạt động theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp” [6, tr29].
Đơn vị sự nghiệp có nhiều loại, có chức năng và nhiệm vụ khác nhau, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động nhằm phục vụ công tác quản lý điều hành của Nhà nước hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trong các ngành và lĩnh vực theo quy định của pháp luật phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức cá nhân, đảm bảo công bằng trong phân phối và khả năng tiếp cận bình đẳng giữa mọi công dân nhất là các dịch vụ cơ bản. Trong các đơn vị sự nghiệp công lập đều sử dụng Ngân sách Nhà nước nên hệ thống kế toán phải tuân theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và Hệ thống mục lục Ngân sách Nhà nước để phục vụ công tác quản lý và thống kê.
Theo Điều 2 - Điểm 1 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì “Đơn vị sự nghiệp công lập 6 do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công). Như vậy, các đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức công việc, sắp xếp bộ máy tổ chức, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội và tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động. Khái niệm, vai trò, nguyên tắc, yêu cầu của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Trường Đại học Lao động - Xã hội, giáo trình Nguyên lý kế toán có nêu: “Tổ chức kế toán là việc tạo ra mối liên hệ theo trình tự nhất định giữa các yếu tố của hệ thống kế toán. Các yếu tố của hệ thống kế toán gồm: Các nhân viên kế toán với năng lực chuyên môn; hệ thống chứng từ tài khoản, sổ sách và báo cáo kế toán; các phương pháp kế toán; các trang thiết bị sử dụng cho kế toán. Tổ chức kế toán là việc tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố trên nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ máy kế toán.” [11, tr227] Trên cơ sở các quan điểm trên, tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán. Nói cách khác, tổ chức công tác kế toán là sự thiết lập mỗi quan hệ qua lại giữa các phương pháp kế toán, đối tượng kế toán với con người am hiểu nội dung công tác kế toán (người làm kế toán) biểu hiện qua một hình thức kế toán thích hợp của một đơn vị cụ thể.
Tổ chức công tác kế toán phụ thuộc vào những yếu tố như qui mô và cấu 7 trúc thông tin, nhu cầu thông tin cho quản lý từng cấp trong từng giai đoạn phát triển, qui mô và trình độ của cán bộ quản lý nói chung và cán bộ kế toán nói riêng, trình độ trang bị và sử dụng kỹ thuật xử lý thông tin,… Tất cả những yếu tố này cần được tính đến cả trong việc ban hành pháp chế về kế toán, cả trong nghệ thuật tổ chức thực hiện trong từng đơn vị cụ thể. Tổ chức công tác kế toán bao gồm các nội dung sau: Tổ chức bộ máy kế toán; Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán; Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán; Tổ chức hệ thống sổ kế toán; Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán; Tổ chức kiểm tra kế toán. Tóm lại, tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập là việc vận hành với một quy trình nhất định, bằng các nghiệp vụ, tổ chức kế toán là việc xử lý các dữ liệu đầu vào – là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh từ các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo nguồn thu cho đơn vị và các hoạt động phát sinh chi phí của đơn vị – thành các sản phẩm công tác đầu ra –là các tài liệu và báo cáo kế toán. Vai trò của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Từ khái niệm tổ chức công tác kế toán, chúng ta nhận thấy tổ chức công tác kế toán có vai trò hết sức quan trọng trong các đơn vị sự nghiệp: Tổ chức công tác kế toán là công cụ thiết yếu để phân tích, đánh giá, tham mưu cho lãnh đạo đưa ra các quyết định quản lý phù hợp. Tổ chức công tác kế toán ghi chép và phản ánh một cách chính xác,kịp thời, đầy đủ và có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình hình thành kinh phí và sử dụng nguồn kinh phí, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị. 8 Tổ chức công tác kế toán thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi; Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước; Kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vật tư tài sản ở đơn vị; kiểm tra việc chấp hành kỷ luật thu, nộp ngân sách, chấp hành kỷ luật thanh toán và chế độ chính sách của Nhà nước. Tổ chức công tác kế toán theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấp dưới, tình hình chấp hành dự toánthu, chi và quyết toán của các đơn vị cấp dưới.
Tổ chức công tác kế toán lập và nộp đúng hạn các báo cáo tài chínhcho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính theo quy định, cungcấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu; phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí ở đơn vị. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập. * Nguyên tắc thống nhất: - Thống nhất giữa các đơn vị hành chính sự nghiệp trong một hệ thống quản lý thống nhất: Thống nhất giữa cấp trên và cấp dưới, thống nhất giữa các đơn vị trong một ngành, thống nhất giữa các ngành với nhau. - Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán với các chỉ tiêu quản lý.
- Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên các tài khoản kế toán. - Thống nhất trong việc áp dụng chính sách tài chính, kế toán. Thống nhất giữa chế độ chung và việc vận dụng trong thực tế tại đơn vị về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán. - Thống nhất giữa chính các yếu tố chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán với nhau.
9 - Thống nhất giữa bộ máy kế toán và bộ máy quản lý của đơn vị hành chính sự nghiệp trong mối quan hệ với bộ máy quản lý của ngành. *Nguyên tắc phù hợp: - Phù hợp với lĩnh vực hoạt động, đặc điểm hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp. Hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán cần xây dựng phải bao phủ được các lĩnh vực hành chính sự nghiệp và còn phản ánh được cho từng lĩnh vực cụ thể theo các đặc trưng khác nhau phục vụ cho các yêu cầu quản lý tại các đơn vị mà vẫn tuân thủ các khuôn khổ pháp lý chung. - Tổ chức hạch toán kế toán một mặt phải phù hợp với hệ thống phương tiện vật chất và các trang thiết bị hiện có của mỗi đơn vị hành chính sự nghiệp, đồng thời phải phù hợp với thực trạng đội ngũ lao động kế toán tại chính các đơn vị này.
- Hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp được xây dựng phải phù hợp với chế độ quản lý và cơ chế quản lý tài chính công hiện tại và cơ chế quản lý tài chính đặc thù của ngành cũng như các thông lệ và chuẩn mực kế toán công quốc tế. * Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: - Trên phương diện quản lý: Phải đảm bảo hiệu quả trong quản lý các đối tượng hạch toán kế toán trên cơ sở các thông tin do kế toán cung cấp. - Trên phương diện kế toán: Phải đảm bảo tính đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu, kiểm tra, chất lượng thông tin do kế toán cung cấp phải có được tính tin cậy, khách quan, đầy đủ kịp thời và có thể so sánh được và bảo đảm tính khoa học, tiết kiệm và tiện lợi cho thực hiện khối lượng công tác kế toán trên hệ thống sổ kế toán cũng như công tác kiểm tra kế toán. Yêu cầu của tổ chức tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập.