CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC PHÒNG, BAN CHUYÊN MÔN TẠI ĐƠN VỊ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ TRONG QUÂN ĐỘI 1. Cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội 1. Khái niệm cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môntại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội Đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội là cơ quan có chức năng tham mưu và đảm bảo về trang bị vật tư, chiến lược, phục vụ nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện của quân đội, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để thực hiện một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra.
Mặc dù quản lý là một thuộc tính tất yếu gắn liền với xã hội nhưng chỉ khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý mới được tách ra thành một chức năng riêng của lao động xã hội; dần dần hình thành những tập thể, những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý- hệ thống quản lý (chủ thể quản lý). Quan niệm về quản lý của các nhà khoa học khác nhau cũng có những sự khác biệt nhất định: - Harold Koontz & Cyril O’Donnell cho rằng: Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm. - Mary Parker Follett cho rằng: Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác. - Theo các tác giả của giáo trình “Quản lý học” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) thì: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát 10 các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Chủ thể quản lý tác động lên con người, thông qua đó mà tác động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn, vật tư, máy móc, công nghệ, thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động. Như vậy, xét về thực chất, quản lý hệ thống xã hội là quản lý con người, biến sức mạnh của nhiều người thành sức mạnh chung của hệ thống để đi tới mục tiêu. Trong một tổ chức điển hình nói chung, theo nghĩa rộng, cán bộ quản lý được hiểu là những người làm việc trong bộ máy của tổ chức, thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức đó; theo nghĩa hẹp thì cán bộ quản lý được hiểu là những người có thẩm quyền ra quyết định dù được phân quyền hay ủy quyền. Như vậy xét về mặt bản chất có thể định nghĩa rằng:Cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân độilà đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung tại đơn vị, chịu trách nhiệm tổ chức thực thi những chiến lược, chính sách, quyết định của Ban lãnh đạo đơn vị, nhằm đạt được những mục tiêu hoạt động đã được đề ra.
Đội ngũ cán bộ quản lý của một tổ chức bao gồm: cán bộ quản lý cấp cao, cán bộ quản lý cấp trung và cán bộ quản lý cấp thấp. Trong đó, đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn trong tổ chức là đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung. Đặc điểm của cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội - Đặc điểm về kiến thức chuyên môn: họ có nhiệm vụ quản lý toàn diện mọi mặt hoạt động của đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội. Vì thế, yêu cầu về mặt chuyên môn đặt ra đối với đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị là rất phức tạp, không chỉ bao gồm kiến thức về các ngành kinh tế, các lĩnh vực chuyên ngành, quản lý tổ chức, mà còn cả môi trường, thể chế kinh tế, v.
- Đặc điểm về công việc: đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân độichịu trách nhiệmcụ thể hóa và triển khai 11 thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch của Ban lãnh đạo đơn vị về các mặt hoạt động của đơn vị. Tính chất trung gian này đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn phải bám sát chỉ đạo của Ban Lãnh đạo đơn vị, đồng thời nhanh chóng hướng dẫn cho cấp dưới. Nếu không đáp ứng yêu cầu này, hiệu quả hoạt động của đơn vị sẽ không thể được đảm bảo. Năng lực quản lý của cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội 1.
Khái niệm năng lực quản lý của cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội Quan niệm về năng lực: Hiện nay có khá nhiều khái niệm về năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực. Những khái niệm ấy được hiểu và trình bày trong các tác phẩm khác nhau ở các thời kỳ khác nhau. Theo từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp các tính chất tâm lý cá nhân, đóng vai trò điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một hoạt động nhất định. Từ điển này cũng định nghĩa, năng lực làm việc là khả năng tiềm tàng của cá nhân nhằm hoàn thành một hoạt động với hiệu suất được đề ra trong một thời gian nhất định.
Sự biến đổi của năng lực làm việc phụ thuộc vào loại hình công việc, đặc điểm tâm sinh lý cá nhân, tình trạng sức khỏe và trình độ chuyên môn. Theo từ điển Giáo dục học: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thành thạo- tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân”. Năng lực phần nhiều là do bẩm sinh hoặc do rèn luyện mà có được.
Năng lực được coi như khả năng của con người khi đối mặt với những vấn đề mới và những tình huống mới, gợi tìm được những tin tức và những kĩ thuật đã được sử dụng trong thực nghiệm trước đây. Qua các khái niệm có liên quan đến năng lực, có thể thấy rằng có khá nhiều khái niệm năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực, dựa trên những góc độ nghiên cứu khác nhau của nhiều tác giả. Những khái niệm này không mâu thuẫn với nhau mà bổ sung cho nhau. Tuy được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau nhưng tổng 12 hợp lại chúng ta có thể thấy chúng có những điểm chung sau: - Năng lực được hiểu là khả năng thực hiện một dạng hoạt động nào đó.
Do vậy, khi nói đến năng lực là phải nói đến năng lực của một hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể. Khi nghiên cứu năng lực cần xem xét năng lực trong mối liên hệ với môi trường hoạt động, đồng thời cần phải xem xét cả vấn đề năng khiếu, tư chất và mức độ phát triển của năng lực. - Năng lực có thể thay đổi thông qua hoạt động. Do vậy, người ta có thể chủ động tạo ra năng lực.
- Các bộ phận cấu thành năng lực bao gồm những thuộc tính tâm lý phù hợp với những yêu cầu của một dạng hoạt động nào đó. Quan niệm về năng lực quản lý: Nhiều học giả hiện nay cho rằng, năng lực quản lý là khả năng đáp ứng được mục tiêu quản lý của tổ chức. Năng lực quản lý bao gồm kiến thức quản lý, kỹ năng quản lý, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, tiềm năng phát triển, khả năng học hỏi và sáng tạo khi thực hiện hoạt động quản lý. Năng lực quản lý được thể hiện một cách tập trung trong toàn bộ chu trình của hoạt động quản lý từ việc lập kế hoạch đến tổ chức- chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch và kiểm tra- đánh giá- hiệu chỉnh.
Như vậy:Năng lực quản lý của cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân độilà tổng hợp của kiến thức quản lý; kỹ năng quản lý; hành vi, thái độ, phẩm chất, đạo đức của người cán bộtrong hoạt động quản lý để đạt được những mục tiêu của phòng, ban nói riêng, mục tiêu của đơn vị nói chung trong từng thời kỳ nhất định.Năng lực quản lý khác với năng lực chuyên môn vì công việc quản lý hoàn toàn khác với công việc chuyên môn. Khi công việc thay đổi thì năng lực làm việc cũng được xem xét lại theo yêu cầu và tính chất của công việc đó. Có những cá nhân có thể có năng lực thực hiện công việc chuyên môn tốt nhưng chưa chắc đã có đủ năng lực để thực hiện công việc quản lý. Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội Năng lực quản lý không được đánh giá thông qua bằng cấp mà đánh giá chủ 13 yếu thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của người cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị kế hoạch và đầu tư trong quân đội.
- Tính hiệu lực của các quyết định quản lý: tính hiệu lực của quyết định quản lý phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của quyết định quản lý đó trên thực tế hoạt động của đợn vị, bộ phận mà người cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn tại đơn vị phụ trách. - Động lực làm việc của các nhân viên cấp dưới: kỹ năng tạo động lực làm việc cho nhân viên cấp dưới trực tiếp là một kỹ năng rất quan trọng đối với người cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn. Ở đây, động lực làm việc của các nhân viên cấp dưới có thể được đánh giá thông qua: thái độ của họ với công việc; hiệu quả công việc mà họ đảm nhận; v. - Hiệu quả làm việc của bộ phận: hiệu quả làm việc của bộ phận là tổng hợp hiệu quả làm việc của mỗi cá nhân trong bộ phận đó.
Tiêu chí này chính là kết quả sau cùng của công việc quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chuyên môn.