Chương 1: Tổng quan Giới thiệu sơ lược lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục khoá luận Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Đưa ra một số khái niệm về nguồn nhân lực, lý thuyết áp dụng trong phân tích, phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu và giới hạn phạm vi nghiên cứu. Chương 3: Phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Long An thông qua phân tích đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Long An; Đặc điểm phát triển nguồn nhân lực lực tỉnh Long An; Hiện trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trên điạ bàn Long An, cuối cùng là đánh giá tổng hợp những điểm mạnh, điểm ýêu, cơ hội và đe doạ đối với nguồn nhân lực tỉnh Long An. Chương 4: Đề xuất các chiến lược, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Long An thông qua việc đưa ra các chiến lược: Chiến lược S-O, Chiến lược W-O, Chiến lược S-T, Chiến lược W-T. Chương 5: Kết luận tổng hợp các kinh nghiệm, kiến thức của bản thân thông qua quá trình làm khoá luận, ý nghĩa thực tế của đề tài và các hạn chế của đề tài.1 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA 2.1 Khái niệm, cơ cấu và vai trò của nguồn nhân lực 2.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực trong phạm vi đề tài được hiểu như là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó (Phạm Minh Hạc, 2001). Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực quan trọng của sự phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng. Với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đó là khả năng lao động của xã hội.
Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động hay nguồn lực xã hội. Có hai loại nguồn nhân lực: a. Nguồn nhân lực xã hội: Nguồn nhân lực xã hội là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Độ tuổi lao động là khoảng tuổi đời theo quy định của luật pháp mọi công dân có khả năng lao động nằm trong độ tuổi đó được coi là nguồn lao động của đất nước.
Nguồn nhân lực xã hội được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng: + Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào việc quy định độ tuổi lao động. Mỗi nước có quy định riêng về độ tuổi tối thiểu và tối đa cho nguồn lao động. Hiện nay, phần lớn các nước quy định tuổi tối thiểu là 14 hoặc 15; ở nhiều quốc gia, ngay cả tổ chức lao động thế giới cũng không quy định giới hạn tuổi tối đa mà để mở ở độ tuổi -4 này. Ở nước ta, nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có tính thêm lao động trẻ em và lao động cao tuổi.
Một cách chung nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của luật pháp có khả năng tham gia vào lao động. Độ tuổi lao động được quy định cụ thể ở mỗi nước khác nhau. Theo điều 145 Bộ luật Lao động Việt nam ngày 23 tháng 6 năm 1994 tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi. + Chất lượng nguồn nhân lực xã hội được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ, ý thức lao động.
Nguồn nhân lực là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người và tính năng động xã hội của con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở qúa trình biến nguồn lực con người thành nguồn vốn con người. Ba mặt: Thể lực, trí lực, tinh thần có quan hệ chặt chẽ và thống nhất, cấu thành nên mặt chất lượng của nguồn lực xã hội. Trong đó, thể lực là cơ sở nền tảng để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn.
Ý thức, tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hiệu qủa hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố quyết định đến chất lượng của nguồn nhân lực xã hội. Trong quá trình lao động, chất lượng nguồn nhân lực xã hội phụ thuộc vào số lượng, chất lượng công cụ, máy móc trang bị cho người lao động. Chính trình độ công nghệ đặt ra yêu cầu và đồng thời làm thay đổi trình độ của người lao động.
Điều này được biểu hiện rõ rệt ở những nước có nền kinh tế kém phát triển đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng con đường chuyển giao, nhập khẩu công nghệ tiên tiến. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất càng cao thì mặt chất lượng, đặc biệt là trình độ trí tuệ của nguồn nhân lực ngày càng giữ vai trò quan trọng. Nguồn nhân lực xã hội theo nghĩa đầy đủ phải được hiểu nó là nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, đồng thời là nhân tố quan trọng của quan hệ sản xuất. Vì vậy, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phụ thuộc rất nhiều ở chất lượng nguồn nhân lực.
-5 Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế gồm: các nhà hoạch định chiến lược chính sách; các nhà nghiên cứu; các nhà quản lý; nhà công nghệ; kỹ sư; kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật lành nghề. Như vậy, nguồn nhân lực mà phạm vi đang xem xét của đề tài là nguồn lực con người, là tiềm năng lao động của con người trong một thời gian nhất định. Nguồn nhân lực là động lực bên trong quan trọng nhất, nó bao gồm sức mạnh của thể lực, trí tuệ, tinh thần và sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng, là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội vì tính năng động xã hội của con người, nhóm người, ngành, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia. Nguồn nhân lực trong một tổ chức: Nguồn nhân lực trong một tổ chức là lực lượng lao động của từng đơn vị, tổ chức, cơ quan.
Nguồn nhân lực của tổ chức là những người tạo thành đội ngũ lao động trong một tổ chức và thực hiện các hoạt động của tổ chức, họ được ký kết hợp đồng với sự tham gia của các nguồn lực tài chính và vật chất của tổ chức đó. Chức năng của tổ chức là phải sử dụng tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Để quản lý có hiệu qủa nguồn nhân lực thì bên cạnh quy mô nguồn nhân lực, vấn đề quan trọng hơn là xác định đúng cơ cấu nguồn nhân lực.2 Cơ cấu nguồn nhân lực Cơ cấu nguồn nhân lực (còn gọi là cơ cấu lao động) trong một tổ chức là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng của các loại nhân lực trong một tổ chức. Một cơ cấu lao động hợp lý là nhân tố đảm bảo để tổ chức thực hiện tốt mục tiêu của mình.
Các loại cơ cấu thường được đề cập: Cơ cấu nguồn nhân lực theo chức năng: nguồn nhân lực trong một tổ chức gồm -6 các viên chức quản lý và nhân viên thừa hành. Trong viên chức quản lý lại được phân ra các loại: lãnh đạo tổ chức, lãnh đạo các bộ phận cấu thành, các viên chức thực hiện chức năng nghiệp vụ quản lý. Cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ chuyên môn: đây là loại cơ cấu được quan tâm nhất vì nó thể hiện mặt chất lượng của nguồn nhân lực. Thường cơ cấu này được phân tích theo tiêu thức: không qua đào tạo, sơ cấp, trung học chuyên nghiệp, đại học, trên đại học.
Một cơ cấu trình độ chuyên môn hợp lý là sự phù hợp giữa chức năng, nhiệm vụ do loại viên chức đó đảm nhiệm và trình độ chuyên môn của loại viên chức đó. Ngoài ra, để có cách thức quản lý và khai thác tiềm năng của nguồn nhân lực trong một tổ chức người ta còn quan tâm phân tích cơ cấu nhân lực theo tuổi và theo giới tính.3 Vai trò nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ thời xa xưa con người sử dụng những công cụ lao động thủ công và nguồn lực do chính bản thân mình để tạo sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Khi sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng cao, hợp tác ngày càng chặt chẽ, con người chuyển dần hoạt động cho máy móc thiết bị thực hiện, làm thay đổi bản chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ.
Cho đến khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại hơn như hiện nay thì con người không thể tách rời nguồn lực con người, vì những lý do như sau: con người đã tạo ra những máy móc thiết bị, con người chế ngự tự nhiên bằng những kiến thức và trí tuệ của mình; máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người, sự tác động của con người, thì chúng chỉ là vật chất vô tri vô giác. Chỉ có tác động của con người thì mới đưa chúng vào hoạt động, mới phát huy khả năng của máy móc. Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực có trình độ cao là động lực chính thức cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yếu -7 tố cơ bản cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững và đ ây là nhân tố đặc biệt quan trọng và ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn khoa học công nghệ phát triển như hiện nay.