CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Công ty cổ phần và đặc điểm của công ty cổ phần có ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán 1.1 Công ty cổ phần Theo luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 thì Công ty cổ phần là một loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà công ty sở hữu. Như vậy Công ty cổ phần là một pháp nhân tồn tại độc lập với số vốn điều lệ được chia làm thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người nắm giữ cổ phần trong công ty được gọi là cổ đông. Cổ đông góp vốn vào công ty được thực hiện thông qua hình thức mua cổ phần.
Mỗi cổ đông là chủ sở hữu một phần của doanh nghiệp tương đương với tỷ lệ vốn góp của mình (tương ứng với số cổ phiếu đang nắm giữ), học chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty giới hạn trong số vốn cổ phần đang nắm giữ, có thể chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần thông qua việc bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.2 Phân loại công ty cổ phần 1.1 Phân loại theo chủ thể sở hữu vốn cổ phần Theo hình thức này, công ty cổ phần được chia thành công ty cổ phần đại chúng và công ty cổ phần tư nhân. - Công ty cô phần đại chúng được thành lâp thông qua việc bán cổ phần cho công chúng. Cổ phiếu của các công ty này thường là cổ phiếu vô danh, có thể chuyển nhượng tự do và mua bán trên thị trường chứng khoán. 7 - Công ty cổ phần tư nhân được thành lập thông qua việc bán cổ phiếu cho các hội viên của công ty, các cổ phiếu này không được phép chuyển nhượng cho người thứ ba hoặc chỉ được chuyển nhượng với sự đồng ý của Hội Đồng quản trị công ty.2 Phân loại theo bản chất hoạt động giao dịch cổ phiếu Theo tiêu thức này công ty cổ phần được chia thành công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán và Công ty cổ phần không niêm yết trên thị trường chứng khoán.
- Công ty cô phần niêm yết trên thị trường chứng khoán là công ty cổ phần đã đạt được một số yêu cầu nhất định theo quy định của cơ quan quản lý có thẩm quyền, niêm yết và giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung. - Công ty cổ phần không niêm yết trên thị trường chứng khoán là công ty cổ phần vì lý do khách quan hay chủ quan không niêm yết trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu của các công ty này được giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung.3 Đặc điểm của công ty cổ phần - Về cổ đông công ty cổ phần: Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông công ty cổ phần. Luật Doanh nghiệp không giới hạn các cổ đông của CTCP mà chỉ quy định số cổ đông tối thểu. Số lượng cổ đông tối thiểu (ít nhất là ba), theo đó, cá nhân , tổ chức không thuộc trường hợp quy đều có quyền tham gia vào CTCP.
Quyền sở hữu cổ phần là căn cứ xác lập tư cách cổ đông của các thành viên. Cổ đông của CTCP thường rất lớn về số lượng và không quen biết nhau. Là loại hình đặc trưng cho công ty đối vốn nên công ty cổ phần có sự liên kết của nhiều thành viên. 8 - Về vốn điều lệ của công ty cổ phần: Vốn điêu lệ CTCP là tập hợp các phần vốn do các cổ đông góp và được ghi vào Điều lệ công ty.
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần.
- Về phát hành chứng khoán: Trong quá trình hoạt động CTCP có quyền phát hành chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn. Chính vì thế CTCP là loại hình công ty có khả năng huy động vốn rất lớn. Chính cơ chế huy động linh hoạt này đã tạo điều kiện ch những cá nhân với số tiền nhỏ cũng có cơ hội đầu tư và hưởng lợi. Cơ chế huy động vốn này còn giúp cho CTCP có khả năng củ động được về nguồn huy động vốn mỗi khi cần nguồn vốn lớn tham gia các hoạt động đầu tư của công ty, sự chủ động này góp phần quan trọng trong sự thành công của loại hình doanh nghiệp này.
- Về chế độ chịu trách nhiệm: Khác với chế độ chịu trách nhiệm vô hạn trong CTCP và doanh nghiệp tư nhân, chế độ chịu trách nhiệm của CTCP là trách nhiệm hữu hạn. CTCP phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Về chuyển nhượng vốn: Ở CTCP, các cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phàn của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của các sáng lập viên trong ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
- Về tư cách pháp nhân: Theo Điều 84 BLDS năm 2005 thì một tổ chức được công nhận là pháp 9 nhân ki đáp ứng đủ các điều kiện sau: “Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Đối với công ty cổ phần, đã thỏa mãn các điều kiện nêu trên, như vậy CTCP là một công ty có tư cách pháp nhân. Trong qua trình hoạt động của mình, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty; với tư cách là một pháp nhân, thông quan đại diện của mình, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ của mình, và vơi tư cách là một pháp nhân, công ty có quyền sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần công ty mà không có bất cứ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty.2 Vai trò và nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần 1.1 Vai trò của tổ chức kế toán trong công ty cổ phần - Tổ chức kế toán cung cấp thông tin. - Thông tin do tổ chức kế toán cung cấp giúp nhà quản lý có những quyết định chính xác.
- Tổ chức kế toán của doanh nghiệp cung cấp thông tin kế toán tài chính, làm cơ sở cho nhà nước ban hành các chính sách, chế độ mang tầm vĩ mô.2 Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần - Tổ chức hợp lý bộ máy kế toán ở các đơn vị phù hợp với đặc điểm, điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý và phân cấp quản lý tài chính ở đơn vị. Đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng đảm bảo hoàn thành mọi nội dung công việc kế toán của đơn vị với chi phí tiết kiệm nhất. Khi tổ chức công tác kế toán, phải đề cập đến tổ chức bộ máy kế toán , phải có kế hoạch cụ thể theo thời gian, phân công cụ thể cho từng bộ phận, từng cán bộ, nhân viên kế toán thì mới đảm bảo chất lượng hiệu quả. 10 - Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán với các bộ phận quản lý khác trong đơn vị về các công việc liên quan đến công tác kế toán và thu nhận, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính liên quan cho các nhà quản lý.
Khi tổ chức kế toán cần xác định rõ nhiệm vụ và mối quan hệ về cung cấp thông tin giữa các bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng liên quan trong toàn đơn vị để có thể cung cấp thông tin phục vụ đáp ứng yêu cầu các nhà quản lý, quản trị trong đơn vị. - Tổ chức vẫn dụng chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán, thống lệ kế toán, Luật kế toán đã ban hành và được thừa nhận với việc lựa chọn một hình thức kế toán phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị. - Tổ chức áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý, từng bước trang bị và sử dụng các phương tiện kĩ thuật tính toán hiện đại. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý , trình độ nghiệp vụ cho cán bộ kế toán.
Tổ chức phổ biến hướng dẫn các chế độ thể lệ về tài chính kế toán cho cán bộ công nhân viên trong đơn vị. Tổ chức kiểm tra kế toán trong nội bộ.3 Nguyên tắc và nội dung tổ chức công tác kế toán trong các công ty cô phần 1.1 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần Tổ chức bộ máy kế toán trong doanh nghiệp phải giải quyết cả hai phương diện: Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nằm liên kết các nhân viên kế toán thực hiện tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp. Tổ chức kế toán trong các công ty cổ phần phải đảm bảo các nguyên tắc như sau: - Nguyên tắc tuân thủ pháp luật: Nhằm tạo ra một môi trường pháp lý cho hoạt động của kế toán, mỗi quốc gia sẽ ban hành một hệ thống các quy định pháp luật cho hoạt động của kế toán. Vì vậy, để đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật.
Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo tuân thủ các quy định về pháp luật kế toán của từng quốc 11 gia mà doanh nghiệp đang hoạt động. Tại Việt Nam hiện nay, tổ chức công tác kế toán phải tuân thủ Luật Kế Toán, Chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định của pháp luật có liên quan khác. - Nguyên tắc thống nhất: Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đảm bảo sự thống nhất giữa kế toán và các bộ phận quản lý khác trong doanh nghiệp.