Chương 1: Lý luận cơ bản tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần Tư vấn thiết kế của Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty cổ phần Tư vấn thiết kế của Việt Nam 20 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kế toán và tổ chức kế toán trong doanh nghiệp 1. Các vấn đề cơ bản về kế toán trong doanh nghiệp 1. Khái niệm kế toán Kế toán ra đời gắn liền với quá trình tái sản xuất xã hội và tồn tại phát triển một cách tất yếu khách quan trong mọi hình thái kinh tế - xã hội.
Sản xuất của xã hội ngày càng phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng cao, đòi hỏi yêu cầu về tổ chức và quản lý ngày càng cao và càng hoàn thiện hơn. Do vậy kế toán ngày càng phát triển cả về hình thức và phƣơng pháp tổ chức để đáp ứng yêu cầu quản lý của tổ chức. Kế toán là một hệ thống thông tin đo lƣờng, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay, có rất nhiều những nhận thức, quan niệm khác nhau về kế toán nhƣ: Theo Luật Kế toán Việt Nam: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, c n dưới hình thức giá tr , hiện vật và thời gian l động”.
Theo Học viện Tài chính: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, c n dưới hình thức giá tr hiện vật và thời gian lao động”. Theo Liên đoàn ế án quốc ế IFCA (1998): Kế án là ộ n ệ uậ ề chép, phân l ạ , ổn ợ e ộ cách riên n ữn n ệ ụ à các sự ện n ế, tài chính, qua đó trình bà ổn quá ế quả ạ độn n ế. Kế án mang tín n ệ uậ n ều ơn ọc ôn qu ệc c é , xử lý, ổn ợ à phân tích các dữ l ệu, các thôn n n ế. u n ên, ế án mang tín c ấ ọc ể ện qu ả năn u ậ , xử lý và cun cấ ông tin, trình độ ái quát hoá; ể ện ố l ên ệ ữ các ạ độn n ế, các sự ệc d ễn n đờ sốn n ếc các đơn ; ể ện n u ên ắc c un n ấ , c ặ c ẽ à ngườ làm công tác ế án buộc ả uân.
[IFCA (1998), Management Accounting Concepts][44] Các khái niệm về kế toán tuy có điểm khác biệt song đều đi đến kết luận chung rằng kế toán là công cụ không thể thiếu đƣợc trong quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản, các 21 hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Kế toán có thể đƣợc phân loại theo các tiêu thức khác nhau, giúp cho chúng ta nhận thức đƣợc nội dung, mục đ ch, phạm vi của từng loại kế toán. Thông thƣờng, kế toán đƣợc phân loại thành kế toán tài chính và kế toán quản trị, hoặc kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết. Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài ch nh cho các đối tƣợng sử dụng thông tin trong đơn vị kế toán và các đối tƣợng bên ngoài cần quan tâm khác nhƣ: cổ đông, ngƣời cho vay, khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, các nhà đầu tƣ, các cơ quan ch nh phủ.
Kế toán quản trị là việc thu thập xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính theo yêu cầu quản trị nội bộ và quyết định kinh tế - tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Kế toán tổng hợp phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng quát về hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị. Kế toán tổng hợp sử dụng đơn vị tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. Kế toán chi tiết phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin chi tiết bằng đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động theo từng đối tƣợng kế toán cụ thể trong đơn vị kế toán.
Kế toán chi tiết minh hoạ cho kế toán tổng hợp. Số liệu kế toán chi tiết phải khớp đúng với số liệu kế toán tổng hợp trong một kỳ kế toán. Kế toán có hai chức năng bao gồm chức năng thu nhận, xử lý, kiểm tra, cung cấp thông tin của kế toán tài chính và chức năng phân t ch, tƣ vấn cho việc ra các quyết định kinh tế của kế toán quản trị. Từ các chức năng này, kế toán có vai trò quan trọng trong bộ máy quản lý kinh tế.
Với đặc điểm cung cấp thông tin một cách thƣờng xuyên, liên tục và có hệ thống về tình hình tài chính, tình hình hoạt động và luồng tiền của đơn vị, kế toán trở thành công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế của công ty cổ phần. Kế toán phục vụ, cung cấp thông tin cho các nhà quản trị của doanh nghiệp để đƣa ra các quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận, cũng trên cơ sở các thông tin kế toán tài chính của doanh nghiệp mà các đối tƣợng có lợi ích trực tiếp nhƣ: chủ đầu tƣ, chủ nợ, các cổ đông, đối tác liên doanh, căn cứ vào những thông 22 tin đó họ có thể ra đƣợc những quyết định đầu tƣ, cho vay, góp vốn nhiều hay ít vào công ty. Các đối tƣợng có lợi ích gián tiếp nhƣ là các cơ quan quản lý chức năng nhƣ: Cơ quan thuế, Tài chính, Thống kê,.Các cơ quan quản lý chức năng của nhà nƣớc dựa vào thông tin kế toán tài ch nh để kiểm tra việc chấp hành, thực hiện các chính sách chế độ về quản lý kinh tế. Để thực hiện tốt vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý, cung cấp thông tin cho các đối tƣợng sử dụng, cần phải tổ chức công tác kế toán một cách khoa học, hợp lý.
C c qu n đ ểm tiếp cận về kế toán Trong hệ thống quản lý kinh tế, kế toán với tƣ cách là một công cụ quản lý chịu chi phối trực tiếp bởi hai yếu tố cơ bản đó là: Khách thể quản lý kinh tế và chủ thể quản lý kinh tế. K c ể quản lý: Khách thể quản lý là những đối tƣợng quản lý biểu hiện đƣợc dƣới dạng tiền nhƣ Tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi ph , kết qủa hoạt động. Nhƣ vậy khách thể quản lý xác định đối tƣợng của kế toán. Khách thể quản lý luôn vận động, phát triển thúc đẩy sự phát triển của kế toán.
Khách thể quản lý đặt ra yêu cầu khách quan đối với kế toán. C ể quản lý: Chủ thể quản lý gồm có Chủ thể quản lý vĩ mô, vi mô. Sự tƣơng tác của chủ thể quản lý dẫn đến tính chủ quan của kế toán biểu hiện trong quá trình xây dựng khung pháp lý, lựa chọn và vận dụng các chính sách kế toán. Tiếp cận kế toán từ góc độ một nghề chuyên môn, kế toán ra đời là sản phẩm tất yếu của nhu cầu thông tin phục vụ quản lý kinh tế – tài ch nh tại các đơn vị và là hoạt động riêng có của con ngƣời.
Cơ sở của sự phát triển kế toán theo hƣớng một nghề chuyên môn gồm: Sự phát triển của nền kinh tế và các đơn vị kế toán; Sự phân công lao động xã hội; khung pháp lý về kế toán. Các yếu tố của nghề kế toán: lao động kế toán, phƣơng thức hành nghề, sản phẩm của nghề, đạo đức nghề nghiệp…, hội nghề nghiệp. Tiếp cận kế toán từ góc độ một khoa học, lịch sử phát triển kế toán cho thấy kế toán chƣa phải là một khoa học ngay từ ngày đầu khi nó hình thành. Mặc dù ra đời cùng sản xuất hàng hóa, song đến thời kỳ chủ nghĩa tƣ bản khi kế toán kép xuất hiện thì kế toán mới có đƣợc tiền đề quan trọng đầu tiên để trở thành khoa học.
Khoa học kế toán ra đời trên cơ sở nhận thức bền bỉ, đúc kết lý luận từ thực tiễn sinh động. Theo các nhà nghiên cứu, khoa học kế toán hình thành trong giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tƣ 23 bản. Khoa học kế toán thuộc lĩnh vực khoa học kinh tế - xã hội, bao gồm hệ thống các lý thuyết về đối tƣợng kế toán, các giả định các khái niệm, nguyên tắc và phƣơng pháp kế toán Nhƣ vậy đứng ở mỗi góc độ tiếp cận nhất định có các định nghĩa tƣơng đối khác nhau về kế toán và mỗi định nghĩa đều có cơ sở. Qua tìm hiểu các cách tiếp cận kế toán nêu trên, khái niệm kế toán có thể khái quát “Kế toán là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ, có hiệu quả mọi hoạt động kinh tế tài chính, cung cấ ôn n đầ đ , trung thực, k p thời, công khai, minh bạc , đ ứng yêu cầu tổ chức, quản lý đ ều hành c cơ qu n n nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân”.
Kế toán có thể đƣợc phân loại theo các tiêu thức khác nhau, giúp cho chúng ta nhận thức đƣợc nội dung, mục đ ch, phạm vi của từng loại kế toán. Các quan điểm về tổ chức công tác kế toán Để phát huy vai trò, chức năng quan trọng của kế toán trong công tác quản lý trong các doanh nghiệp, đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán một cách khao học hợp lý, nhằm cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu của các đối tƣợng quan tâm. Xuất phát từ bản chất của kế toán là một hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, có chức năng kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức vận dụng các phƣơng pháp kế toán để liên kết các yếu tố cấu thành các công việc của kế toán nhằm thực hiện tốt các nhiệm cụ của kế toán trong doanh nghiệp.