Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tài chính trong bệnh viện 1. Định nghĩa về việc phân loại bệnh viện Theo quy chế Bệnh viện của Bộ y tế ban hành thì Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho người bệnh [14]. Theo nhà xuất bản thống kê Hà Nội cách phân loại bệnh viện, nếu phân loại theo quyền sở hữu đã có 2 loại đó là bệnh viện ngoài công lập ( bệnh viện tư nhân ) và bệnh viện công lập (thuộc sở hữu của nhà nước) [13].
Nghiên cứu trong luận văn này chỉ đề cập đến bệnh viện công lập (sau đây gọi tắt là bệnh viện). Theo nghị định 43/2006 của Chính phủ thì căn cứ vào khả năng huy động nguồn thu sự nghiệp, bệnh viện được chia thành 3 loại bệnh viện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính [22] ( theo điều 9 NĐ 43/CP): - Bệnh viện tự bảo đảm chi phí hoạt động. - Bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động. - Bệnh viện do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
Hàng năm nhà nước cấp ngân sách căn cứ vào cách phân loại này làm cơ sở để cấp kinh phí cho các bệnh viện và là cơ sở để các bệnh viện thực hiện việc phân phối kết quả hoạt động tài chính (KQHĐTC) của đơn vị mình hàng năm. Các chính sách có liên quan đến tài chính trong bệnh viện 1. Vai trò, chức năng của tài chính Đối với hoạt động của bệnh viện, tài chính bệnh viện (TCBV) có một vai trò rất là quan trọng, nó được quy định cụ thể bởi các chức năng về tài chính. Đó là huy động được các nguồn tài chính về y tế một cách phù hợp với thực tại của đơn vị và luật pháp quy định; đồng thời quản lý và phân bổ các nguồn tài chính trong đơn vị [30].
Ngoài hai chức năng trên, TCBV còn có chức năng rất quan trọng khác đó là chức năng phát triển kỹ thuật y tế khuyến khích và việc nâng cao chất lượng DVYT; nhằm bảo vệ cho người dân trước những rủi ro do các chi phí khám chữa bệnh y tế quá lớn, tránh cho người dân không bị nghèo hóa. So với ngành tài chính doanh nghiệp thì đây cũng là hai chức năng khác biệt của TCBV và TCBV trong tư nhân hoạt động là vì mục tiêu đem đến lợi nhuận cho họ. Các chức năng này đòi hỏi 6 các bệnh viện thu sự nghiệp phải tăng thu sao cho hợp lý và đồng thời tiết kiệm chi phí phấn đấu sao cho giảm các chi phí khám và điều trị bệnh thấp nhất có thể. Một số chính sách có liên quan đến tự chủ tài chính Thực hiện theo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, ngày 14/08/2005 về việc đẩy mạnh xã hội hóa (XHH) các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao [21]. Trong đó có lĩnh vực trong ngành y tế là chủ trương phát triển, nâng cao chất lượng y tế và đa dạng hóa các loại hình BHYT. Đổi mới việc thu viện phí trên cơ sở từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí trực tiếp nhằm phục vụ cho người bệnh. Từng bước biến chuyển việc ngân sách cấp kinh phí hoạt động thường xuyên (HĐTX) cho các cơ Sở Y tế KCB sang cấp trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng DVYT thông qua hình thức BHYT.
Chuyển biến hầu hết các bệnh viện trong công lập sang cơ chế hoạt động theo cung ứng các dịch vụ y tế, khuyến khích các cơ Sở Y tế khám chữa bệnh tự tăng cường tính tự chủ, giảm dần sự phụ thuộc vào NSNN [4]. Nghị định 95 được Chính phủ ban hành năm 1994, đến năm 2011 đã được 17 năm song vẫn chưa có sự thay đổi chính thức nào về mặt văn bản. Giá viện phí vẫn áp dụng theo cơ cấu giá thu MPVP, không được điều chỉnh theo chỉ số giá hàng năm đã bộc lộ quá nhiều bất hợp lý so với mặt bằng giá cả chung của xã hội. Giá viện phí thấp, mang nặng tính bao cấp nhưng NSNN lại không bao cấp được phần thiếu hụt.
Điều này đòi hỏi nhà nước cần thay đổi cơ chế tính giá viện phí [26]. Chính vì thế từ ngày 25 tháng 4 năm 2006. Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP (Nghị định 43) trong đó qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, thay thế cho Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 [20], [25]. Mục tiêu của Nghị định 43 nhằm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp công lập trong việc tổ chức, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực về tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi tiềm năng sẳn có của đơn vị sao cho cung cấp các dịch vụ y tế với chất lượng cao nhất có thể cho xã hội; nhằm tăng được nguồn thu cho đơn vị, từng bước giải quyết thu 7 nhập cho người lao động ngày một tốt hơn.
Thực hiện tốt chủ trương của đảng về việc XHH trong cung cấp các dịch vụ y tế cho xã hội, biết huy động sức mạnh đóng góp của cộng đồng nhằm để phát triển cho các hoạt động trong đơn vị sự nghiệp, NSNN thì từng bước giảm dần sự bao cấp cho hoạt động. Theo Nghị định 43/CP quy định thì đối với các bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính [22]. Bệnh viện căn cứ vào năng lực hiện có được phép huy động vốn, tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ y tế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Người đứng đầu bệnh viện được quyết định ký hợp đồng thuê khoán nhân lực lao động.
Nhà nước rất khuyến khích trong việc bệnh viện tăng các nguồn thu, tiết kiệm các khoản chi phí, thực hiện việc tinh giản cho gọn biên chế nhưng vẫn đủ nguồn lực, tăng thêm nguồn thu nhập cho người lao động dựa trên việc hoàn thành nhiệm vụ được cấp trên giao cho. Bệnh viện sau khi trang trải tất cả các khoản chi phí có liên quan, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN và nếu có vốn góp thì phải phân phối lợi nhuận góp vốn cho cổ đông, sau đó bệnh viện được phép trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (PTHĐSN) tối thiểu bằng 25% chênh lệch thu chi (CLTC), sau đó trích lập quỹ tiền lương tăng thêm (tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm) và quỹ khen thưởng, phúc lợi (tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm). Quy chế chi tiêu nội bộ quy định việc chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho hoạt động thu, tiết kiệm trong chi tiêu đã được trả thu nhập cao hơn. Theo Nghị định 43/2006 mục tiêu chính của nghị định là đòn bẩy là động lực trong hoạt động của bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyên môn của các bệnh viện, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động về tài chính.
Tự chủ trong tổ chức biên chế là điều kiện đủ để các bệnh viện thực hiện TCTC.[22] Sau sáu năm thực hiện NĐ 43/2006, ngày 15/10/2012 Chính phủ ban hành NĐ85/2012/NĐ-CP Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2012 Nghị định này quy định về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự 8 nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập thay thế NĐ95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ. NĐ 85 tạo ra bước chuyển đổi cơ bản một cách có lộ trình về cơ chế hoạt động của các cơ Sở Y tế công lập [24]. Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về việc Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập ra đời. Chính sách TCTC đã tạo điều kiện cho các bệnh viện tự chịu trách nhiệm và chủ động trong hoạt động cung cấp DVYT [25].
Các bệnh viện công lập được phép huy động các nguồn vốn từ ngoài xã hội để đầu tư thêm trang thiết bị, tổ chức cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Muốn tăng được các nguồn thu, các bệnh viện đã mạnh dạng tăng cung cấp dịch vụ về số lượng, đa dạng hóa các loại hình cung cấp DVYT chất lương hơn, từ đó thực hiện chỉ tiêu chuyên môn tăng lên các dịch vụ khác kèm theo cũng được cải thiện [25]. Chính sách TCTC đã tạo điều kiện cho các bệnh viện tự chịu trách nhiệm và chủ động trong hoạt động cung cấp DVYT [27]. Thực hiện theo cơ chế TCTC nhằm tạo ra cho các bệnh viện từ một đơn vị sự nghiệp thụ động, chỉ trông chờ vào NSNN cấp hàng năm, nay chuyển sang một đơn bị hoạt động gần như cơ chế của một doanh nghiệp công ích, năng động, chủ động, và sáng tạo hơn [32].
Chính sách TCTC cho phép các bệnh viện chủ động sử dụng nguồn kinh phí được cấp điều hành phù hợp thực tế để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Sử dụng tiết kiệm kinh phí để nâng cao hiệu quả của tài chính. Các bệnh viện được chủ động bố trí cả về số lượng lẫn chất lượng nguồn nhân lực sao cho phù hợp nhằm hoàn thành tốt về nhiệm vụ chuyên môn, tiết kiệm thấp nhất chi phí, cải thiện nguồn thu nhập cho NVYT, gắn chất lượng với hiệu quả. Được tự chủ động xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ, trong quản lý tài chính và phân phối nguồn thu nhập một cách công khai và minh bạch.
Thực hiện phân phối thu nhập theo hướng khuyến khích NVYT nâng cao hiệu quả làm việc, khích lệ tinh thần làm việc sáng tạo của NVYT, nâng cao chất lượng dịch vụ, nhưng vẫn phấn đấu tăng thu và phải tiết kiệm chi phí. Thực trạng tài chính của bệnh viện 9 1. Thực trạng tự chủ mục thu Căn cứ vào khả năng huy động nguồn thu sự nghiệp, bệnh viện được phân thành 3 loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính [27]: - Bệnh viện tự bảo đảm chi phí hoạt động. - Bệnh viện tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động.
- Bệnh viện do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.