Chương 1 GIỚI THIỆU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. Hầu hết các doanh nghiệp khi hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng đến mục tiêu gia tăng lợi nhuận tối đa. Để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải thực hiện nhiều biện pháp trong đó việc lựa chọn cấu trúc tài chính hợp lý là một trong những biện pháp hết sức quan trọng và cần thiết.
Cấu trúc tài chính và cấu trúc vốn là những nội dung quan trọng trong tài chính doanh nghiệp được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình. Đi tiên phong trong nghiên cứu vấn đề này là Modigliani và Miller với lý thuyết nổi tiếng của hai ông: Định đề 1 (1958) - trong thị trường vốn hoàn hảo, không có chi phí và thuế, việc lựa chọn cấu trúc vốn không tác động đến giá trị doanh nghiệp (mô hình MM). Nghiên cứu này được xem là khởi đầu cho mọi nghiên cứu về cấu trúc tài chính và cấu trúc vốn sau này. Từ nghiên cứu lý thuyết tiên phong của Modigliani và Miller, các công trình nghiên cứu tiếp theo thậm chí có lý thuyết mâu thuẫn với lý thuyết của MM lần lượt được ra đời.
Trong đó, các lý thuyết phát triển sau đáng chú ý gồm có: Lý thuyết trật tự phân hạng (Myers và Majluf, 1984), Lý thuyết lợi nhuận hoạt động ròng, Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Bradley et al, 1984), Lý thuyết chi phí đại điện (Jensen và Meckling, 1976) và nhiều nghiên cứu khác ở các cấp độ khác nhau. Các lý thuyết đã chỉ ra rằng, cấu trúc tài chính và cấu trúc vốn không những ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động ổn định, hiệu quả của mỗi doanh nghiệp. Có rất nhiều công trình thực nghiệm ứng dụng các lý thuyết trên để nhằm tìm ra một cấu trúc tài chính tối ưu cho mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi doanh nghiệp… Tại Việt Nam, công tác quản trị tài chính trong các doanh nghiệp tuy đã được cải thiện hơn trước đây nhưng thực tế vẫn chưa được các doanh nghiệp đánh giá đúng tầm quan trọng, nhất là trong các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Việc 3 lựa chọn nguồn tài trợ đáp ứng cho nhu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh đôi khi được hình thành một cách tự phát, không dựa trên những nguyên lý cơ bản của một lý thuyết tài chính hiện đại nào cả.
Một cấu trúc tài chính tối ưu giúp doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Khi xây dựng một cấu trúc tài chính cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro nếu không dựa trên những phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính như rủi ro kinh doanh, thuế, tỷ suất sinh lợi, quy mô doanh nghiệp, cơ cấu tài sản,… cộng với đầu tư vào những dự án kém hiệu quả thì có khả năng dẫn doanh nghiệp đến phá sản. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn trong điều kiện lãi suất, tỷ giá hối đoái và lạm phát tăng cao, các ngân hàng bị kiểm soát tăng trưởng tín dụng, tình hình xuất khẩu gặp nhiều khó khăn thì việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính là bước quan trọng để tái cấu trúc cơ cấu tài chính của các doanh nghiệp ngành thủy sản Việt Nam. Xuất phát từ các vấn đề trên, tác giả nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu và đã quyết định lựa chọn đề tài “NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM” làm luận văn tốt nghiệp.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI. Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp, để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính các doanh nghiệp ngành thủy sản thì luận văn cần nghiên cứu các vấn đề sau: - Tìm hiểu các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính nói chung và cấu trúc tài chính doanh nghiệp ngành thủy sản nói riêng. - Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành thủy sản Việt Nam. - Đưa ra một số gợi ý từ các kết quả nghiên cứu.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU. 4 Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày thì nội dung luận văn phải giải quyết được các câu hỏi nghiên cứu sau đây: - Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và cấu trúc tài chính ngành thủy sản của các nghiên cứu trên thế giới và trong nước bao gồm các nhân tố và chiều hướng tác động đến đòn bẩy tài chính như thế nào? - Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành thủy sản Việt Nam là gì và chiều hướng tác động như thế nào? - Từ kết quả nghiên cứu, các gợi ý nào nên được thực hiện để cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam tốt hơn. 5 Chương 2 TỔNG QUAN VẾ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
Quan điểm truyền thống. Quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn, thuận lợi vượt trội hơn bất lợi. Chi phí nợ thấp, kết hợp với thuận lợi về thuế sẽ khiến WACC giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa nợ và VCSH tăng, tác động của tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc các cổ đông tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí VCSH tăng).
Ở mức tỷ lệ nợ và VCSH cao, chi phí nợ cũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn). Vì vậy, ở mức tỷ số giữa nợ và VCSH cao hơn, WACC sẽ tăng. Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là không có một lý thuyết cơ sở thể hiện chi phí VCSH nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa nợ và VCSH tăng; hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ tăng. Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (mô hình MM).
Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn. Để lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ra một số những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính như sau: - Thị trường vốn hoàn hảo: Không có các chi phí giao dịch khi mua bán chứng khoán; có đủ số người mua và người bán trong thị trường, vì vậy không có một nhà đầu tư riêng lẻ nào có ảnh hưởng lớn đối với giá cả chứng khoán; có sẵn thông tin liên quan cho tất cả các nhà đầu tư và không phải mất tiền; tất cả các nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng lãi suất. 6 - Tất cả các nhà đầu tư đều hợp lý và có kỳ vọng đồng nhất về lợi nhuận của một doanh nghiệp. - Các doanh nghiệp hoạt động dưới các điều kiện tương tự sẽ có cùng mức độ rủi ro kinh doanh.
- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Nếu thị trường vốn là hoàn hảo thì các doanh nghiệp có nguy cơ kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhau phải có tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không phải dựa trên cách thức cấp vốn. Từ đây, có thể rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy có tiền lời mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau cũng phải có WACC giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và VCSH. Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí VCSH tăng cùng với nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn tăng).
Modigliani và Miller chỉ ra là những tác động này là cân bằng. Việc sử dụng nợ mang đến cho CSH tỷ suất lợi tức cao hơn bù đắp cho rủi ro tăng do tăng tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn. Phương trình cho lý thuyết của MM như sau: Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ. Như vậy, theo lý thuyết của mình, MM kết luận rằng, với một số giả định trên, chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp và giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn.
Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo MM, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, theo phương trình sau: 7 Vg = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Trong đó, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp.
Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (the trade – off theory). Các giám đốc tài chính thường coi quyết định về nợ- vốn cổ phần của doanh nghiệp như là sự đánh đổi giữa lợi ích từ tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Lý thuyết này thừa nhận rằng có các tỷ lệ nợ mục tiêu khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp nên gia tăng nợ cho đến khi giá trị từ hiện giá tấm chắn thuế vừa đủ bù trừ gia tăng trong hiện giá các chi phí kiệt quệ tài chính. Các công ty có nhiều tài sản hữu hình và có thu nhập cao nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao, còn các công ty có nhiều tài sản vô hình và có mức thu nhập thấp thường dựa vào tài trợ bằng vốn cổ phần.