CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ NHÂN LỰC CỦA KHỐI TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 1. Khái luận về quản trị nhân lực và đãi ngộ nhân lực trường Cao đẳng, Đại học. Khái luận về trường Cao đẳng, Đại học. Trường Cao đẳng, Đại học là cơ sở giáo dục bậc đại học hay giáo dục bậc cao.
Đây là các cơ sở học tập sau bậc trung học và cuối khóa được trao văn bằng học thuật hay cấp chứng chỉ. Điều kiện để có thể nhập học với hầu hết các trường Cao đẳng, Đại học là phải hoàn thành giáo dục bậc trung học. Giáo dục bậc đại học bao gồm các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu. thực tập, đào tạo nghiên cứu chuyên sâu vào các chuyên ngành như kinh tế, kỹ thuật, sư phạm, y học….
nhằm giúp đào tạo ra những thế hệ sinh, học viên có kỹ năng, trình độ để có thể làm việc và cống hiến cho xã hội. Theo điều 38 luật giáo dục/2005 có nêu rõ: trường Cao đẳng đào tạo trình độ Cao đẳng. Trình độ Cao đẳng được thực hiện trong 3 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp. Điều 39 luật giáo dục/2005: “Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo.” Ở Việt Nam hiện nay, trường cao đẳng là một loại hình giáo dục đại học trình độ sau trung học nhưng thấp hơn trường đại học.
Sinh viên tốt nghiệp hệ cao đẳng có thể tham gia thi tuyển để được chọn vào hệ liên thông của một số trường đại học. Một số các trường cao đẳng điển hình tại Việt Nam hiện nay như: Trường cao đẳng thương mại và du lịch, trường cao đẳng y Hà Nội, trường cao đẳng sư phạm trung ương, trường cao đẳng sư phạm Hà Nội…. Theo điều 38 luật giáo dục/2005: trường Đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học; đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ khi được Chính phủ giao. Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4 đến 6 năm tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và từ 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành.
Luan van 19 Ở các quốc gia phát triển, có tới 50% dân số theo học trong các cơ sở giáo dục đại học. Giáo dục đại học theo đó rất quan trọng với nền kinh tế quốc gia. Những người theo học tại các trường cao đẳng, đại học thường có mức lương cao hơn và ít có khả năng thất nghiệp hơn so với những người có học vấn thấp hơn. Do đó, cần phát triển hơn nữa hệ thống giáo dục tại các trường cao đẳng, đại học tại Việt Nam và hoàn thiện các chính sách đãi ngộ nhân lực tại các trường cao đẳng, đại học cũng là yếu tố góp phần đạt được mục tiêu phát triển hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam.
Khái niệm và đặc điểm nhân lực trong trường Cao đẳng, Đại học a. Khái niệm nhân lực trong trường Cao đẳng, Đại học. Nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự tồn tại của bất kì đơn vị, tổ chức nào. Nhân lực chính là nguồn tài sản vô giá làm nên sự khác biệt giữa các tổ chức khác nhau.
Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong tổ chức, tức là các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì, phát triển tổ chức. Có thể hiểu nhân lực như sau: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” – Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế. Theo đó: Nhân lực trong trường Cao đẳng, Đại học là sức lực của đội ngũ cán bộ giảng viên công tác tại các trường Cao đẳng, Đại học và làm các nhiệm vụ giảng dạy hoặc các công việc trợ giúp cho Ban giám hiệu trong việc đào tạo ra đội ngũ nhân lực có ích cho xã hội.
Nhân lực trong trường Cao đẳng, Đại học bao gồm: Đội ngũ cán bộ khối phòng ban và đội ngũ giảng viên. Đặc điểm của nhân lực trong trường Cao đẳng, Đại học Về trình độ chuyên môn: Nhân lực trong trường cao đẳng, đại học là đội ngũ nhân lực được đào tạo chính quy, bài bản; có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ chính trị cao. Giảng viên trong trường CĐ, ĐH vừa là nhà giáo, vừa là nhà Luan van 20 khoa học. Một giảng viên muốn nâng cao năng lực, trình độ thì phải tích cực tham gia các công tác NCKH.
Do đó, họ hội tụ đủ cả năng lực phẩm chất của nhà giáo lẫn nhà khoa học. Bên cạnh đó, tính sáng tạo cũng là một trong những đặc điểm của đội ngũ nhân lực trong trường cao đẳng, đại học nhất là với đội ngũ giảng viên. Sự sáng tạo được thể hiện trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Về tính chuyên môn hóa: Mỗi nhân lực trong trường CĐ, ĐH sẽ đảm nhận một công việc khác nhau.
Do đó, họ phải là người có chuyên môn sâu về lĩnh vực mà họ công tác. Ví dụ một giảng viên sư phạm Hóa sẽ là người am hiểu, và được đào tạo chuyên về lĩnh vực hóa học; hay một kế toán làm việc trong trường sẽ phải có kiến thức chuyên về ngành kế toán. Qua đó, có thể thấy tính chuyên môn hóa cũng là một đặc điểm của nhân lực trong trường CĐ, ĐH. Về giao tiếp: Đặc điểm của nhân lực trong trường cao đẳng, đại học là thường xuyên phải tiếp xúc, làm việc với sinh viên do đó họ phải là những người có khả năng truyền đạt tốt, nhất là đối với đội ngũ giảng viên.
Về tính thời vụ: Thời gian làm việc của nhân lực trong trường cao đẳng, đại học cũng mang những đặc điểm riêng biệt nhất là với đội ngũ cán bộ giảng viên. Theo quy định của nhà nước, thời gian làm việc của giảng viên được thực hiện theo chế độ mỗi tuần làm việc 40 giờ và được xác định theo năm học. Tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên trong một năm học để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác trong nhà trường là 1.760 giờ sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định.Định mức giờ chuẩn cho giảng viên trong một năm học là 270 giờ chuẩn; trong đó, giờ chuẩn trực tiếp trên lớp chiếm tối thiểu 50% định mức quy định. Giảng viên trong thời gian tập sự, thử việc chỉ thực hiện tối đa 50% định mức giờ chuẩn quy định.
Đối với giảng viên thỉnh giảng sẽ thực hiện thời gian giảng dạy theo hợp đồng đã kí với trường cao đẳng, đại học. Đối với các giảng viên sẽ không cần phải làm việc 8 tiếng/ ngày. Số giờ làm việc một ngày của họ sẽ được tính trên số tiết giảng dạy theo quy định mà nhà trường đã đề ra. Về môi trường làm việc: Môi trường làm việc của nhân lực trong trường Cao đẳng, Đại học mang tính mô phạm.
Điều này có nghĩa là sự chuẩn mực, mẫu mực Luan van 21 trong mọi mặt: tác phong, ngôn ngữ, cách ứng xử giữa nhân lực này với nhân lực khác và đối với sinh viên. Bên cạnh đó, giảng viên tại các trường CĐ, ĐH là những người trực tiếp đào tạo lên những thế hệ nhân lực có ích cho xã hội do đó họ luôn phải là những người gương mẫu, tư tưởng đạo đức tốt, phẩm chất chính trị vững vàng. Các loại nhân lực trong trường cao đẳng, đại học Nhân lực trong trường cao đẳng, đại học bao gồm: Giảng viên cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng, đội ngũ cán bộ khối phòng ban. Giảng viên cơ hữu: là đội ngũ giảng viên thuộc biên chế của trường hoặc kí hợp đồng lao động với trường.
Giảng viên cơ hữu được trả lương theo thang bậc lương, được nhà trường đóng BHXH hàng tháng, được lập sổ BHXH, được tham gia các tổ chức đoàn thể trong trường như công đoàn, đoàn thanh niên, phụ nữ…. được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phải thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà trường. Giảng viên cơ hữu phải đáp ứng các tiêu chuẩn: Có bằng tốt nghiệp đại học Sư phạm trở lên hoặc có bằng tốt nghiệp đại học trở lên phù hợp với chuyên môn, chuyên ngành giảng dạy và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Họ là những người có trình độ ngoại ngữ và trình độ tin học trình độ B trở lên.
Có trình độ trung cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc trung cấp lý luận chính trị và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo quy định. Giảng viên cơ hữu bao gồm: Giảng viên chính và giảng viên cao cấp. - Giảng viên chính: là giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên phù hợp với chuyên môn, chuyên ngành giảng dạy. Có trình độ ngoại ngữ, tin học đạt loại C trở lên.
Bên cạnh đó, giảng viên chính phải có khả năng thiết kế, xây dựng kế hoạch chương trình đào tạo, bồi dưỡng, biên soạn tài liệu giảng dạy môn học, tài liệu tham khảo phục vụ đào tạo, bồi dưỡng. Có đề án hoặc đề tài nghiên cứu khoa học được cấp khoa hoặc cơ sở đào tạo bồi dưỡng công nhận và áp dụng có kết quả trong chuyên môn. - Giảng viên cao cấp: là giảng viên có bằng tiến sĩ và có trình độ ngoại ngữ, tin học đạt loại C trở lên. Có đề án hoặc công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh hoặc cấp bộ, ngành trở lên và được Hội đồng khoa học công nhận và đưa vào áp dụng có hiệu quả.
Luan van 22 Giảng viên thỉnh giảng: là đội ngũ giảng viên được cơ sở giáo dục mời về để: Giảng dạy các môn học, học phần được quy định trong chương trình giáo dục cao đẳng, đại học. Hay hướng dẫn tham gia chấm, hội đồng chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp, hướng dẫn tham gia hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ; Hướng dẫn tham gia thí nghiệm, thực hành, thực tập theo các chương trình giáo dục. Hoặc tham gia xây dựng phát triển chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy, sách tham khảo.