CHƯƠNG 1 NHỮNG LUẬN C ứ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 1. H ệ th ố n g các loại chiến lược củ a d o a n h ngh iệp 1 .1 C h iế n lư ợ c c ấ p to à n d o a n h n g h iệ p Là cấp chiến lược cao nhất với mục đích và tầm của cả tổ chức, nhằm xác định những lĩnh vực kinh doanh hay những lĩnh vực công nghiệp nào doanh nghiệp xẽ tham gia hoạt động; đáp ứng nguyện vọng của chủ quản lý (cổ đông chính), chiến lược cấp toàn doanh nghiệp nhằm phân bổ các nguồn lực của cả tổ chức, cả công ty. tạo cơ sở cho các quyết định chiến lược khác, các cấp chiến lược khác. Gồm loại chiến lược sau 1.1 Chiến lược tăng trưởng Đối với các doanh nghiệp mà mục tiêu cần đạt được là tăng trưởng và phát triển, thì chiến lược tăng trưởng cũng nhằm vào việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng như: tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và thị phần của doanh nghiệp.
Để tăng trưởng doanh nghiệp có thể thực hiện bằng nhiều phương án chiến lược khác nhau. Giai đoạn đầu, doanh nghiệp thường áp dụng các chiến lược tăng trưởng tập trung để hoạt động trong một ngành kinh doanh thuần nhất và trong khuôn khổ thị trường nội địa. Sau đó doanh nghiệp có xu hướng sử dụng các chiến lược tăng trưởng bằng hội nhập với bên ngoài để tạo ưu thế cạnh tranh của mình trên cả thị trường trong nước và quốc tế. Để mở rộng hoạt động của mình, doanh nghiệp tận dụng các cơ hội kinh doanh mới để tăng trưởng qua đa dạng hoá hoạt dộng và đi vào kinh doanh đa ngành.
Chiến lươc tăng trưởng tâp trung Chiến lược tăng trưởng tập trung là các chiến lược chủ đạo đặt trọng tâm vào việc cải tiến sản phẩm hoặc thị trường hiện có của doanh nghiệp. Chiến lược tăng trưởng tập trung vào ngành kinh doanh chủ lực của doanh nghiệp. Khi theo 7 đuổi chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm cách khai thác mọi cơ hội có được về sản phẩm hiện đang sản xuất và thị trường hiện có bằng cách thực hiện tốt hơn các công việc mà họ đang tiến hành. Căn cứ vào 5 yếu tố: sản phẩm; thị trường; ngành kinh doanh; cấp độ hoặc quy mô ngành; công nghệ áp dụng, thì chiến lược tăng trưởng hoặc tập trung của doanh nghiệp được chia làm 3 loại chủ đạo là: chiến lược thâm nhập thị trường; chiến lược phát triển thị trường và chiến lược phát triển sản phẩm.
Các chiến lươc tăng trưởng bằng con đường hối nhâp. Các chiến lược tăng trưởng qua hội nhập, liên kết với các doanh nghiệp khác rất thích hợp khi cơ hội sẩn có phù hợp với mục tiêu và chiến lược dài hạn của doanh nghiệp. Nó cho phép doanh nghiệp củng cố vị thế cạnh tranh và phát huy được khả năng cũng như các nguồn lực của doanh nghiệp. Các loại chiến lược này có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau: Chiến lược tăng trưởng băng sát nhập; Chiến lược tăng trưởng bằng thôn tính; Tăng trưởng băng liên doanh.
Chiến lươc tâng trưởng bằng cách da dang hoá hoat đống của doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp bắt đầu nghĩ đến việc đa dạng hoá khi họ đã tạo được nguồn lực tài chính và lợi nhuận vượt quá mức vốn cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại của mình hoặc khi doanh nghiệp không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng trong ngành kinh doanh hiện tại. Có các hình thức sau: Đa dạng hoá hoạt động đồng tâm; Đa dạng hoá chiều ngang; Đa dạng hoá hỗn hợp.2 Chiến lược ổn định Thực chất của chiến lược này là duy trì hoạt động sản xuất và kinh doanh hiện tại ở mức ổn định sau một thời gian dài tăng trưởng nhanh nhằm củng cố lại các nguồn lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.13 Chiến lược thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh Là sự sắp xếp lại, cắt giảm chi phí và tài sản nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm các loại chiến lược sau: a.
Chuyển hướng sán xuất: khi gặp tình huống khó khăn trong kinh doanh việc chuyển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sang ngành nghề khác là điều cần thiết để cứu vãn tình thế. Cát giảm chi phí hoat đống sản xuất kinh doanh: đây là chiến lược ngắn hạn, tạm thời hướng vào việc thu hẹp quy mồ sản xuất, giảm bớt một số bộ phận kinh doanh hiệu quả thấp và không còn phù hợp với nhiệm vụ chiến lược của doanh nghiệp. Thu hổi vốn đáu tư: bằng cách thanh lí, hay nhượng bán lại một số tài sản cho một số cơ sở để thu hồi lại vốn đầu tư. Giải thể doanh nghiệp: khi doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại hoặc chuyển hướng sản xuất thì buộc phải giải thể.
C h iế n lư ợ c c ấ p đ ơ n v ị k in h d o a n h c ủ a d o a n h n g h iệ p " S B U " Ngoài chiến lược cấp doanh nghiệp, doanh nghiệp còn phải đề ra chiến lược cho các đơn vị cơ sở kinh doanh và bộ phận chức năng quan trọng. Các đơn vị cơ sở này phải có một vị trí chiến lược còn gọi là SBU (Strategic Business Units). Nếu doanh nghiệp chỉ có một đơn vị cơ sở thì chiến lược cấp công ty và và chiến lược cấp SBU là một. Đối với doanh nghiệp đa ngành, chiến lược của các doanh nghiệp và SBU là khác nhau.
Chiến lược cấp SBU có thể phân loại như sau: 1. Chiến lược theo các giai đoạn phát triển của quá trình kinh doanh. Chiến lươc trong, giai đoan tung sản phẩm bán ra thi trường, gồm: - Chiến lược "thu lượm" nhanh: giá cao và mức độ khuyến mại cao. - Chiến lược "thu lượm" chậm: giá cao và mức độ khuyến mại thấp.
- Chiến lược thâm nhập nhanh: giá thấp và tăng cường khuyến mãi. - Chiến lược thâm nhập chậm: kết hợp giá thấp và mức độ khuyến mại thấp. b Chiến lươc trong giai doan tăng trưởng. - Tập trung cải tiến chất lượng, phát triển các mẫu mã mới.
- Tập trung khai thác các phân đoạn thị trường mới. - Tìm kiếm các kênh tiêu thụ mới. Chiến lươc trong giai đoan bão hoà (chín muồi). - Chú trọng đến việc tìm kiếm các phân đoạn thị trường trước đó chưa khai thác.
- Cải tiến chất lượng, kiểu dáng và tạo ra các tính năng mới của sản phẩm. - Cải tiến hiệu quả nếu điều kiện cho phép trong các khâu sản xuất, tiêu thụ và công đoạn marketing khác. Chiến lươc trong giai đoan suy thoái: khi lượng hàng bán ra có hiện tượng suy giảm liên tiếp thì cần phải đổi mới hoặc loại bỏ mặt hàng đó. Chiến lược cạnh tranh a.
Chiến lươc canh tranh chỉ phối bằng chi phí. Là việc dẫn đầu hạ giá thành để cạnh tranh về giá. Cho phép doanh nghiệp cạnh tranh và vượt qua đối thủ cạnh tranh bằng cách sản xuất hàng hoá và dịch vụ với chi phí thấp hơn và bán với giá rẻ hơn. Chiến lược này thường được áp dụng cho doanh nghiêp có quy mô lớn để có thể khai thác được những lợi thế về quy mô.
Chiến lươc khác biẽt hóa sản phẩm. Mục tiêu của chiến lược này là nhằm cung ứng những sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt được khách hàng cảm nhận là độc đáo ở điểm nào đó. Tính khác biệt của sản phẩm có thể là chất lượng, độ tin cậy, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ kèm theo sản phẩm hay vô vàn các yếu tố khác nữa. Chiến lươc tâp trung vào mốt phân đoan thi trường trong điểm.
Thực chất là tập trung vào một phân đoạn đặc biệt của thị trường. Phân đoạn thị trường trọng điểm này được phân định theo địa lí, theo nhóm khách hàng hoặc theo một bộ phận thị trường trên một tuyến sản phẩm đặc thù. Chiến lược này chỉ có thể thành công khi doanh nghiệp có nhiều lợi thế hơn hẳn đối thủ trong phân đoạn thị trường trọng điểm. + Chiến lược chi phí thấp - thị trường ngách: Tập trung vào việc hạ thấp toàn bộ chi phí sản xuất trong khi đáp ứng sản phẩm và dịch vụ cho thị trường hẹp, + Chiến lược sản phẩm khác biệt hoá cao - thị trương ngách: Được áp dụng cho các bộ phận kinh doanh sản xuất những sản phẩm dịch vụ phân biệt hoá cao, rất cầu kỳ nhằm phục vụ cho nhóm nhu cầu đặc biệt của một nhóm khách hàng hoặc thị trường nhỏ và hẹp.
+ Chiến lược kết hợp chi phí thấp - khác biệt hoá cao - thị trường ngách: Được áp dụng cho các bộ phận kinh doanh sản xuất những sản phẩm dịch vụ cầu 10 kỳ nhằm đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của một nhóm khách hàng hoặc thị trường ngách thích hợp trong khi vẫn có thể hạ thấp chi phí sản xuất. Chiến lược cạnh tranh theo vị thế doanh nghiệp. Chiến lươc cho các hãng dẫn đẩu thi trưởng. Khi chọn mục tiêu là tăng trưởng nhanh và chiến lược tập trung, thì khi đó các nhà lập kế hoạch marketing có thể chọn một trong hai mục tiêu tăng trưởng marketing.
Thứ nhất là tìm cách mở rộng quy mô của toàn thị trường , thứ hai có thể tăng thị phần nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh. Khi hãng chọn mục tiêu tăng trưởng ổn định và chiến lược tập trung thì nói chung cũng phải chọn mục tiêu marketing sao cho có thể bảo vệ được thị phần hiện có. Chiến lươc cho các hãng thách thức trên thi trường. - Tấn công vào vào đối thủ đứng đầu trên thị trường một cách trực tiếp hoặc chính diện.
- Thu tóm thị phần của các đối thủ cạnh tranh khác nhỏ hơn và yếu thế hơn. - Tìm cách tránh đối thủ trực tiếp c. Chiến lươc cho các hãng đi sau. Đó là xây dựng một chiến lược bảo vệ thị phần của mình, không ngừng dữ các khách hàng hiện có và tìm kiếm thị phần nhờ các khách hàng mới.
Chiến lươc cho các hãnư dang tìm chỗ đứng trẽn thi trường. Xây dựng được một hình thức chuyên môn hoá nào đó, như chuyên môn hoá theo đặc điểm khách hàng, địa lý, mặt hàng, phẩm chất hàng hoá dịch vụ và chất lượng hàng hoá. Chiến lược sản xuất tác nghiệp Chiến lược sản xuất tác nghiệp bao gồm các quyết định về các vấn đề như sản phẩm mới được phát triển là những sản phẩm nào, khi nào chúng được đưa vào sản xuất, các công cụ phụ trợ cho sản phẩm mới là gì và khi nào thì cần. Chiến lược sản xuất tác nghiệp được thảo luận theo các nội dung sau 11 a.