chương I của luận văn này tập trung đưa ra các khái niệm về chiến lược để đưa ra được định nghĩa tổng hoà chung nhất của khái niệm chiến lược. Từ đó, giúp doanh nghiệp có tiền đề hoạch định chiến lược kinh doanh. Hiện tồn tại rất nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược kinh doanh. Trước hết, phải biết được Khái niệm chiến lược (strategy) bắt nguồn từ khái niệm “strategos” trong tiếng Hy Lạp cổ, có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, gắn với vai trò của vị tướng trong quân đội.
Đến thời Alexander Đại đế, khái niệm chiến lược được dùng nói về kỹ năng chỉ đạo để khai thác các lực lượng, đánh bại đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Tại Châu Âu, khái niệm chiến lược đã thâm nhập từ lĩnh vực quân sự sang lĩnh vực kinh doanh vào cuối thế kỷ XIX với nhiều góc nhìn khác nhau. Và từ đây đã có rất nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm chiến lược. Cụ thể: * Năm 1962, nhà nghiên cứu lịch sử quản lý Alfred D.
Chandler cho rằng “chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp và thực hiện chương trình hoạt động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được những mục tiêu ấy”. Như vậy, tư tưởng của ông thể hiện rõ chiến lược kinh doanh là một quá trình hoạch định có tính xuyên suốt, trong đó doanh nghiệp lựa chọn những mục tiêu cho mình, xác định chương trình hành động để hoàn thành tốt nhất những mục tiêu đó và tìm cách phân bổ nguồn lực tương ứng. * Vào giữa thập niên 1970, Nhóm tư vấn Boston (BCG – Boston Consulting Group) đã đưa khái niệm chiến lược trở nên quen thuộc với hầu hết các doanh nhân. Trong đó, tồn tại một vài định nghĩa khác nhau về chiến lược kinh doanh như: - Kenneth R.Andrew (1971) cho rằng : Một chiến lược kinh doanh là khái niệm nhằm chỉ công ty đang hoặc sẽ thực hiện điều gì, đang hoặc sẽ trở thành như thế nào, bằng mô hình mục tiêu chính.
Học viên: Đào Thị Thu Thảo – Viện kinh tế và quản lý 14 Luận văn thạc sĩ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội - Jame B. Quinn (1980) cho rằng, chiến lược kinh doanh là một dạng thức hay một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và một chuỗi hành động được kết dính với nhau vào thành một tổng thể. * Năm 1996, Micheal Porter, chiến lược gia lừng danh thế giới lại có quan điểm về chiến lược nhấn mạnh tới góc độ cạnh tranh. Theo ông, “Chiến lược là việc nghiên cứu tìm ra một vị thế cạnh tranh phù hợp trong một ngành công nghiệp, một phạm vi hoạt động chính mà ở đó diễn ra các hoạt động cạnh tranh”.
Ông cũng cho rằng “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty”. Ở đây, ông đã nhấn mạnh rằng bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh, chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động điển hình nhất. Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt.2 Những cách nhìn đối lập nhau về khái niệm chiến lược Thomas J.Peters và Robert H.Waterman Jr là những người đi đầu trong việc phát triển khái niệm chiến lược theo trường phái “tự phát”, đối lập với trường phái của Micheal Porter. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai trường phái này không nằm ở nội hàm của chiến lược mà ở cách thức xây dựng chiến lược.
Sự khác biệt ấy được thể hiện như sau: - Nếu Micheal Porter cho rằng bộ phận xây dựng chiến lược của tổ chức nên thực hiện phân tích lý thuyết, quyết định lợi thế cạnh tranh mà tổ chức của mình muốn sử dụng, căn cứ vào đó để xây dựng chiến lược, tiếp đến mới là thực thi chiến lược đó. - Thì ngược lại, trường phái “tự phát” cho rằng phương pháp xây dựng chiến lược của Micheal Porter là lối tư duy quá đơn giản khi cho rằng lớn hơn là tốt hơn, hay chi phí thấp là người chắc chắn thắng thế, và rằng công việc của một quản lý là ra quyết định.Peters và Robert H. (2 chuyên gia về thực hành quản lý trong kinh doanh) gọi đó là “cách hành xử công việc theo kiểu “ngồi trong tháp ngà mà phân tích”, tức là căn cứ để ra quyết định thực thi lại tách biệt khỏi việc nghiên cứu giải quyết các vấn đề trong quy trình vận hành thường nhật của công ty. Do đó, các tác giả này cho rằng mỗi tổ chức hãy bắt đầu ngay lập tức (dù chưa có bất kỳ một văn bản chiến lược nào), với tất cả thế mạnh và điểm yếu của mình và hướng tới một lối đi đã vạch sẵn, khuyến khích các tổ chức nhìn vào thực tế, môi trường hoạt động của họ, tiến hành một chuỗi bao gồm: hành động, sai lầm, khắc phục, và tiếp tục hành động.
Qua quá trình đó, chiến lược của họ sẽ xuất hiện. Học viên: Đào Thị Thu Thảo – Viện kinh tế và quản lý 15 Luận văn thạc sĩ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội Năm 1998, Mintzberg (một trong 20 nhà quản lý kinh doanh do Wall Street Journal bình chọn) lại đưa ra quan niệm rằng chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động. Mẫu hình có thể là bất kỳ kiểu chiến lược nào, chiến lược được thiết kế từ trước hay chiến lược đột biến. Ông này đưa ra mô hình cách tiếp cận hiện đại giúp doanh nghiệp dễ dàng ứng phó linh hoạt trước những biến động của môi trường kinh doanh và phát huy tính sáng tạo của các thành viên trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nếu tiến hành xác định chiến lược theo định nghĩa này, thì người lãnh đạo, quản lý phải có trình độ, khả năng dự báo được những điều kiện để thực hiện chiến lược và đánh giá được giá trị của các chiến lược đột biến. Cụ thể hơn, theo Henry Mintzberg, nội dung khái niệm chiến lược kinh doanh có thể bao gồm 5 yếu tố (được xác định là 5P) bao gồm: kế hoạch (Plan); mưu lược (Ploy); phương thức hành động (Pattern), định vị (Position) và triển vọng (Perspective). Qua các cách tiếp cận trên, dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng có thể hiểu một cách khái quát, chiến lược kinh doanh là chương trình hành động, hướng hoạt động của doanh nghiệp để đến các mục tiêu đã xác định. Ngắn gọn hơn, chiến lược kinh doanh chính là những giải pháp định hướng giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu dài hạn.3 Nội hàm của chiến lược Chiến lược cung cấp tầm nhìn tổng quát, mục tiêu phát triển một công ty, một ngành và tổng hợp các chính sách để thực hiện các mục tiêu đó.
Theo hướng này, có thể hiểu chiến lược theo những nội hàm khác nhau. Cụ thể: * “Chiến lược là mưu lược” (sách lược). Với cách hiểu này, chiến lược bao gồm những biện pháp hành động để đối phó với đối thủ. Cách hiểu chiến lược là kế hoạch thường mang ý nghĩa dài hạn hơn, còn cách hiểu chiến lược là mưu lược thường mang ý nghĩa ngắn hạn hơn, tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo một mục tiêu dài hạn xuyên suốt.
* “Chiến lược là phương thức”. Với cách hiểu này, chiến lược được xem như là một phương thức hoạt động, là sự nhất quán trong hành động dù có dụng ý hay không. * “Chiến lược là định vị”. Với cách hiểu này, chiến lược được coi là một phương tiện để định vị một tổ chức trong môi trường của nó, gắn mối quan hệ giữa tổ chức và môi trường, giữa bên trong với bên ngoài.
Học viên: Đào Thị Thu Thảo – Viện kinh tế và quản lý 16 Luận văn thạc sĩ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội * “Chiến lược là triển vọng”. Cách nhìn này lại được tiến hành từ bên trong của tổ chức. Nội hàm của nó bao gồm không chỉ chọn lựa định vị, mà còn là cách thức ăn sâu vào nhận thức, hay nói cách khác, nó xác định mong muốn phát triển từ bên trong tổ chức.Về bản chất, mọi chiến lược nói chung đều là phương tiện để tạo ra thay đổi, tức là nó gồm những gì nằm trong khoảng giữa ý đồ (mục đích và kết quả), hoặc giữa khả năng dự kiến và hiện thực đạt được. Kết quả hay hiện thực mới được tạo ra này phải chứa đựng những thay đổi nhất định từ bên trong.
Khuynh hướng và chức năng chủ đạo của mọi chiến lược là phát triển. Xét theo quy mô và chức năng lao động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà nhà quản trị có thể lựa chọn ba chiến lược kinh doanh cơ bản sau: 1.4 Các cấp chiến lược 1.1 Chiến lược công ty/tập đoàn Đây là chiến lược cấp cao nhất của tổ chức hoặc doanh nghiệp có liên quan đến các vấn đề lớn, có tính chất dài hạn và quyết định tương lai hoạt động của doanh nghiệp. Thường thì chiến lược công ty/tập đoàn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự biến động của cơ cấu ngành kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nó dẫn tới một hệ quả là doanh nghiệp luôn phải đặt ra câu hỏi có nên tiếp tục theo đuổi hoạt động trong lĩnh vực đó hay không? Hay doanh nghiệp nên tham gia vào lĩnh vực khác mà tại đó lợi nhuận nói riêng hoặc các mục tiêu khác dễ dàng đạt được và đạt được với hiệu quả cao hơn. Và tương lai của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào quyết định đó. Thông thường thì trách nhiệm xây dựng chiến lược cấp công ty sẽ do Ban lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp thực hiện. Đây là đội ngũ giỏi nhất của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp.
Ngày nay trong nền kinh tế toàn cầu thì cho dù doanh nghiệp không có ý định bán hàng ra nước ngoài thì cũng phải dự đoán của bối cảnh thế giới vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới bối cảnh kinh tế Việt Nam, tới ngành kinh doanh và cuối cùng tới chính doanh nghiệp của mình.Nếu như chúng ta có các dự báo chính xác tại giai đoạn này thì các giai đoạn sau cho dù thực hiện không được suôn sẻ cũng sẽ mang lại những lợi ích cho DN. Dự báo sai sẽ dẫn tới những chiến lược sai, kế hoạch sai, phân bổ nguồn lực sai, chi phí gia tăng, doanh thu sụt giảm.2 Chiến lược cạnh tranh Đây là chiến lược cấp thấp hơn so với chiến lược công ty.