phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn chia thành 3 chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận về hoạt động CTXH hỗ trợ cho ngƣời sau cai nghiện. Chƣơng II: Thực trạng hoạt động CTXH hỗ trợ cho ngƣời sau cai nghiện tại xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố hải Phòng. Chƣơng III: Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH hỗ trợ cho ngƣời sau cai nghiện ma túy tạixã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố hải Phòng. 15 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ CHO NGƢỜI SAU CAI NGHIỆN.
Khái niệm Nghiên cứu 1.Công tác xã hội Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia của nhân viên CTXH Mỹ (NASW - 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cƣờng hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đó”. Luật an sinh-xã hội Phillipines giải thích: Công tác xã hội là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh sự hoà hợp giữa cá nhân và môi trƣờng để có xã hội tốt đẹp. Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH. CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cƣờng chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trƣờng xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Từ các khái niệm trên, khái niệm CTXH đƣợc tác giả sử dụng trong luận văn này nhƣ sau: “Công tác xã hội là một hoạt động chuyên môn nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời công tác xã hội thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia 16 đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội thông qua đó đảm bảo nền anh sinh xã hội.Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) Nhân viên công tác xã hội (tiếng Anh là social worker) là những ngƣời hoạt động trong nhiều lĩnh vực, đƣợc đào tạo chính quy và cả bán chuyên nghiệp, đƣợc trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội để trợ giúp các đối tƣợng tiếp cận đƣợc nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tƣơng tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trƣờng tạo ảnh hƣởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn (Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc tế - IFSW). Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội (Dubois and Miley, 2005). Ở Việt Nam thời điểm trƣớc năm 1975, nhân viên xã hội là một từ đƣợc một số ít ngƣời biết đến, nhƣng từ sau năm 1975 đến nay từ nhân viên công tác xã hội vẫn là một từ mới ít ngƣời bình thƣờng biết tới. Nhƣ vậy trong nghiên cứu này nhân viên công tác xã hội chính là ngƣời tham gia vào các hoạt động nghề công tác xã hội.Công tác xã hội cá nhân Hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam có nhiều định nghĩa liên quan đến công tác xã hội cá nhân, sau đây là một số định nghĩa của một số tác giả, tổ chức tiêu biểu: Theo Mary Richmond: “Công tác xã hội cá nhân là những tiến trình phát triển nhân cách nhờ những điều chỉnh đƣợc tác động một cách có ý thức, theo từng cá nhân một, giữa con ngƣời và môi trƣờng xã hội của họ…” “Có 17 thể định nghĩa Công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật thực hiện những việc khác nhau bằng cách hợp tác với họ để cùng đạt tới sự tốt đẹp hơn cho xã hội và cho chính bản thân họ”.
Theo bà Nguyễn Thị Oanh: “Công tác xã hội cá nhân là một phƣơng pháp can thiệp (của Công tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích của Công tác xã hội cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thƣờng các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình. Theo định nghĩa của Hiệp hội Công tác xã hội Thế giới: Công tác xã hội cá nhân là một hình thức cá biệt hóa việc giúp đỡ con ngƣời đối phó với những vấn đề cá nhân thƣờng liên quan đến sự sa sút hay gãy đổ trong việc thực hiện các chức năng xã hội một cách đầy đủ”. Mỗi định nghĩa đều đƣa ra các luận điểm khác nhau về công tác xã hội cá nhân.
Tựu chung lại, công tác xã hội cá nhân chính là một phƣơng pháp công tác xã hội. Công tác xã hội sử dụng phƣơng pháp này đề tác động, can thiệp vào những vấn đề gặp phải của thân chủ, hỗ trợ thân chủ phát huy năng lực bản thân, kết nối thân chủ với các nguồn lực khác để giải quyết vấn đề gặp phải. Dịch vụ công tác xã hội Theo Nguyễn Hải Hữu (2011) trong bài viết “Phát triển mạng lƣới dịch vụ công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội” có nêu: Từ trƣớc tới nay, chúng ta đã quen với thuật ngữ dịch vụ xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội. Ví dụ, nhƣ ngƣời ốm đau bệnh tật thì cần đƣợc chữa trị và họ là ngƣời mua dịch vụ, từ đó xuất hiện nhu cầu đào tạo ngƣời chữa bệnh là y tá, y sỹ, bác sỹ.
Tƣơng tự nhƣ vậy, con ngƣời ta có nhu cầu hiểu biết xã hội, từ đó xuất hiện nhu cầu đào tạo giáo viên cho các cấp học, bậc học và ngƣời giáo viên là ngƣời cung cấp dịch vụ dạy học. Một khi nói tới dịch vụ, cung cấp dịch vụ tức là cần có 18 hai yếu tố là những ngƣời có nhu cầu sử dụng dịch vụ và những ngƣời cung cấp dịch vụ. Còn các thuật ngữ dịch vụ công tác xã hội, mạng lƣới dịch vụ công tác xã hội ở nƣớc ta chƣa đƣợc nói đến nhiều. Song, những thuật ngữ này sẽ từng bƣớc đƣợc làm quen và đƣợc mọi ngƣời chấp nhận, bởi thực tế hiện luôn có rất nhiều ngƣời có nhu cầu về loại hình dịch vụ này.
Xét về bản chất dịch vụ xã hội và dịch vụ công tác xã hội có thể gần tƣơng đồng tuy nhiên dịch vụ công tác xã hội có nét đặc trƣng riêng bởi những ngƣời có nhu cầu sử dụng dịch vụ và các loại hình dịch vụ mà họ muốn đƣợc cung cấp thông qua các hoạt động tƣ vấn, tham vấn, quản lý đối tƣợng, nâng cao năng lực và giúp đối tƣợng có kế hoạch hành động thiết thực trong cuộc sống, có thể tiếp cận các nguồn lực sẵn có để sử dụng các nguồn lực, dịch vụ có hiệu quả. Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng: dịch vụ công tác xã hội là hệ thống các hoạt động trợ giúp xã hội cho những cá nhân, nhóm và cộng đồng đang gặp phải các vấn đề khó khăn. Các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội có thể là của Nhà nước, tư nhân, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo và các tổ chức xã hội khác. Các dịch vụ cho những nhóm đối tƣợng khác nhau tạo thành một hệ thống dịch vụ công tác xã hội đặc thù nhƣ: dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em, dịch vụ công tác xã hội cho ngƣời nghèo, dịch vụ công tác xã hội cho ngƣời nghiện và sau cai nghiện ma túy, 1.
Dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy Theo quan điểm, định hƣớng của Đề án đổi mới công tác cai nghiện (QĐ 2596/QĐ-TTg năm 2013), Nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma túy (gọi tắt là điều trị nghiện) là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ, các dịch vụ về y tế, tâm lý, xã hội làm thay 19 đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép, cai nghiện ma túy để hòa nhập cộng đồng. Nhƣ vậy có thể hiểu: hoạt động công tác xã hội hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy là các hoạt động hay các dịch vụ hướng tới trợ giúp xã hội cho người sau cai nghiện ma túy và gia đình họ (cũng có thể là nhóm người saunghiện ma túy và cộng đồng) giúp họ có thể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Những hodịch vụ này sẽ được cung cấp tới khách hàng theo nguyên tắc toàn diện và liên tục, nhằm năng cao khả năng tự giải quyết vấn đề cho khách hàng (thân chủ), giúp họ phục hồi và hòa nhập cộng đồng bền vững. Hay nói cách khác hoạt động công tác xã hội hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy là các hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ tham vấn, tư vấn, giáo dục, biện hộ, kết nối nguồn lực… giúp người sau nghiện ma túy, gia đình và cộng đồng phát huy nội lực, ngoại lực; tìm kiếm, tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công tác xã hộiphù hợp với vấn đề và nhu cầu của họ để hòa nhập cộng đồng hiệu quả và bền vững 1.Các khái niệm liên quan đến ma túy 1.
Ma túy Ở Việt Nam, thuật ngữ “ma túy” xuất hiện, ban đầu có nghĩa là thuốc phiện. Sau đó ma túy còn là cây cần sa và cây côca. Có ý kiến cho rằng gọi là “ma túy” bởi vì các chất này có tác dụng nhƣ ma thuật, ma quái có thể chữa một số bệnh có hiệu quả cao và tăng hƣng phấn hoặc ức chế thần kinh. Nó làm cho con ngƣời mê mẩn, ngây ngất, túy lúy.
Trong tiềm thức của ngƣời Việt Nam “ma túy” đồng nghĩa với xấu xa, tội lỗi. Ma tuý là từ Hán Việt, với nghĩa: “ma” là tê mê, “túy” là say sƣa. Nhƣ vậy, ma túy là chất đƣa đến sự say sƣa, mê mẩn.