Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY 1. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu Để giúp cho việc phân tích các vấn đề trong nghiên cứu, đề tài đã sử dụng một số lý thuyết sau đây: 1. Thuyết nhu cầu của A. Maslow: Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950.
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần. Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp.1: Bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow (1908-1970) Đối với NNMT, họ là những người đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Do đó, NNMT cũng có rất nhiều nhu cầu theo các bậc thang nhu cầu của Maslow, cu ̣ thể như: Nhu cầu cơ bản (basic needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu 18 làm cho con người thoải mái,… Đối với NNMT do ảnh hưởng của chất kích thích nên sức khoẻ của người nghiện giảm sút nghiêm trọng, hay phát sinh một số bệnh kèm theo (Ví dụ: mất ngủ, tóc khô và rụng, xuất hiện các bệnh lý về phổi, gan…), vì vậy họ có nhu cầu lớn về hỗ trợ y tế để cai nghiện, chữa các bệnh và phục hồi sức khoẻ. NNMT khi được hỗ trợ trong điều trị, được tư vấn, chia sẻ thì sẽ có khả năng tự nguyện cam kết trong vấn đề điều trị nghiện.
Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,… NNMT rất cần được sống trong môi trường không có ma tuý để có thể cai nghiện. NNMT do kích thích của ma tuý, cộng thêm nếu ý chí kém, người nghiện khó kiềm chế được những cám dỗ của ma tuý.
Kinh nghiệm cho thấy, nhiều người sau vài năm đã cai nghiện, nhưng chỉ thấy, hoặc nghe thấy ma tuý là đã quay trở lại nghiện. Người nghiện ma tuý cần có được các thông tin, kiến thức về bệnh nghiện ma tuý để họ hiểu rõ những nguyên nhân, tác hại và các phương pháp phòng chống việc tái sử dụng lại ma túy. Trong quá trình cai nghiện, khi người nghiện cảm thấy thoải mái sẽ tự nguyện hợp tác và quyết định việc điều trị của bản thân mà không cần đến sự ép buộc hay cưỡng ép nào. Thực tế cho thấy NNMT trong các trường hợp bị sợ hãi, bị đe dọa về mặt tinh thần và thể xác sẽ sống khép kín, ngại giao tiếp, không hợp tác, … gây cản trở quá trình chữa bệnh, học tập.
Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love). Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, … 19 NNMT sau khi phục hồi ở giai đoạn cắt cơn, giải độc với sự can thiệp của thuốc giúp NNMT giảm đau về thể chất, chuyển sang giai đoạn ổn định tâm lý, tâm thần trong cuộc sống. Trong trạng thái tỉnh táo này người nghiện thường sống trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi do lúc này họ nhận thức được về hoàn cảnh, về tình trạng sức khoẻ cũng như về những điều mà họ đã gây ra cho gia đình và bạn bè. Chính vì vậy tình yêu thương, sự đồng cảm, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ của gia đình, cộng đồng chính là liều thuốc giúp họ vơi đi những nỗi đau, cái mà họ thường dùng ma tuý để xoa dịu, giảm bớt.
Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Khi đã nghiện ma túy NNMT thường bị mọi người xa lánh và coi họ như là tội phạm. Tuy nhiên trong thực tế không phải người nghiện nào cũng trộm cắp, lừa đảo, … Họ rất có thể chỉ nhất thời có những hành vi lệch chuẩn vì căn bệnh nghiện của mình. Vì thế bản thân NNMT họ cần được sự tin tưởng của mọi người.
Lòng tin của mọi người làm tăng thêm sức mạnh cuộc sống của đối tượng. Việc cai nghiện có thành công hay không, phụ thuộc rất nhiều ở sự tự nguyện, ở sự nỗ lực chủ quan của đối tượng. Việc ta đặt lòng tin vào NNMT là cách mà ta tiếp sức cho họ tự vựơt qua những khó khăn của sự cám dỗ, và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình. NNMT cũng cần được mọi người chấp nhận quá khứ và tôn trọng nhân phẩm của họ.
Sau khi cai nghiện và trở về với gia đình và cộng đồng, sự nghi ngờ, hắt hủi, và xua đuổi, những hành vi, ngôn ngữ kỳ thị, xa lánh NNMT là một trong những nguyên nhân làm cho họ cảm thấy tủi hổ, đau khổ và dẫn đến quay lại con đường nghiện ngập trước đây. Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm 20 việc, đạt các thành quả trong xã hội. NNMT sau khi phục hồi thể chất, tâm lý thì bước tiếp theo của quá trình phục hồi chính là hồi phục tinh thần. Ở giai đoạn này, khi đã tiếp nhận được đầy đủ các kiến thức, kỹ năng, họ sẵn sàng tham gia giúp đỡ những người khác cùng cảnh ngộ là muốn thể hiện mình nhưng cũng có tác dụng t ự giúp mình phục hồi.
NNMT sau khi đã cai nghiện thành công, họ cũng mong muốn tìm kiếm được việc làm để ổn định cuộc sống. Ta nhận thấy, NNMT có tất cả nhu cầu như người bình thường. Do vậy, khi người nghiện không có điều kiện tự thỏa mãn các nhu cầu trong xã hội như người bình thường thì chúng ta phải trợ giúp. Các nhu cầu được biểu thị từ thấp đến cao theo thang bậc nhưng không giống nhau ở mỗi người.
Việc hỗ trợ cho người nghiện thường luôn ưu tiên từ những nhu cầu cơ bản. Tuy nhiên, không phải nhu cầu nào cũng được đáp ứng ngay vì còn phụ thuộc vào nguồn lực. Vận dụng thuyết nhu cầu trong tham vấn điều trị nghiện ma túy giúp người tham vấn xác định được nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của NNMT còn chưa được đáp ứng, thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để hỗ trợ họ có hiệu quả. Người tham vấn cần tìm hiểu các khó khăn mà NNMT gặp phải và các phương thức cần thiết để giáo dục và tham vấn hiệu quả.
Chính vì vậy, nhiệm vụ của người tham vấn là tìm hiểu các nhu cầu của NNMT, sắp xếp các nhu cầu của họ theo thứ tự ưu tiên đối với vấn đề họ đang gặp phải. Từ đó, cùng NNMT thực hiện kế hoạch nhằm đáp ứng các nhu cầu của mình và có thể tăng cường các chức năng xã hội. Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, giúp người tham vấn hiểu được con người có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,… Do đó trong việc trợ giúp cho NNMT nhà tham vấn không chỉ trợ giúp thân chủ thỏa mãn nhu cầu sinh lý cơ bản mà cao hơn nữa phải tập trung trợ giúp cho thân chủ nhằm giúp thân chủ thỏa mãn các nhu cầu tinh thần để sống 21 lành mạnh hơn.
Điều này có nghĩa là nhà tham vấn làm việc với NNMT để giúp họ xác định các hành động có thể thực hiện được để thay đổi bản thân và các vấn đề có thể đang cản trở NNMT trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ, từ đó tiếp tục tư vấn, dẫn dắt người nghiện thực hiện tốt quy trình điều trị. Thuyết hành vi tạo tác của B.Skinner (1904-1990) là một nhà tâm lý học người Mỹ nổi tiếng. Theo quan điểm của ông, cuộc sống con người là thành quả của những củng cố trong quá khứ. Ông cho rằng, có thể theo dõi tất cả những khía cạnh của cuộc sống con người, ngay cả đến những nguồn gốc sâu xa nhất của nó.
Từ những nghiên cứu thực nghiệm cũng như phân tích lí thuyết hành vi, ông cho rằng cả động vật và người có ba dạng hành vi: hành vi không điều kiện (có cơ sở phản xạ bẩm sinh), hành vi có điều kiện (phản xạ có điều kiện cổ điển) và hành vi tạo tác (phản xạ có điều kiện tạo tác). Các dạng hành vi có điều kiện và không điều kiện do kích thích gây ra gọi là phản ứng kiểu S. Những phản ứng sinh ra không phải do kích thích mà do cơ thể tự tạo ra gọi là tạo tác. Đây là phản ứng dạng R.
Trong sơ đồ cổ điển S -> R, các kích thích (S) đóng vai trò tín hiệu, còn trong sơ đồ tạo tác, vai trò tín hiệu này được chuyển vào trong hành vi củng cố. Có thể diễn đạt mối quan hệ này trong công thức S -> r -> s -> R. Măc dù bản chất trực tiếp kích thích phản ứng là hiển nhiên trong cả hai sơ đồ. Nhưng rõ ràng, trong sơ đồ hành vi tạo tác, tính chất chủ động và tự do tác động của cá thể đối với môi trường là lớn hơn rất nhiều so với sơ đồ cổ điển.
Skinner cho rằng, sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cố, còn hành vi tạo tác nhằm tạo ra kích thích củng cố.