Tổng quan về luận án

Biến đổi nhân khẩu học và già hóa dân số đang trở thành một trong những chuyển dịch mang tính cấu trúc sâu sắc nhất của thế kỷ 21. Báo cáo của Liên hiệp quốc (2020) dự báo tỷ lệ người trên 65 tuổi trên toàn cầu sẽ tăng mạnh từ 9,3% năm 2020 lên 16,0% vào năm 2050, tương đương hơn 1,5 tỷ người. Nằm trong nhóm mười quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới, Việt Nam đối diện với thách thức to lớn khi Tổng cục Thống kê ước tính đến năm 2038, nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên sẽ chiếm khoảng 20% tổng dân số trong bối cảnh mức thu nhập bình quân chưa cao. Trong bức tranh đó, người cao tuổi (NCT) thuộc các nhóm yếu thế, đặc biệt là nhóm di dân và tái định cư, phải gánh chịu tình trạng "tổn thương kép" do rào cản kinh tế, trình độ học vấn thấp, sự suy giảm sức khỏe và đứt gãy mạng lưới an sinh truyền thống.

Tại Thừa Thiên Huế, cuộc "di dân lịch sử" từ năm 2009–2010 đã đưa hàng ngàn hộ dân vạn đò sinh sống hàng trăm năm lênh đênh trên sông Hương lên định cư trên đất liền tại hai khu tái định cư tập trung: phường Hương Sơ và phường Phú Hậu (thành phố Huế). Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu học thuật lớn tồn tại khi phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận vấn đề tái định cư dưới góc độ quy hoạch đô thị, sinh kế kinh tế đơn thuần hoặc khảo sát người cao tuổi nói chung, mà chưa có nghiên cứu thực chứng chuyên sâu nào từ chuyên ngành Công tác xã hội (mã số: 9760101.01) đi sâu vào đánh giá năng lực tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, sự đứt gãy mạng lưới an sinh và thử nghiệm mô hình can thiệp nhóm chuyên nghiệp cho nhóm người cao tuổi vạn đò sông Hương hậu tái định cư.

Luận án của nghiên cứu sinh Trương Thị Yến (2024) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Văn Tùng và TS. Huỳnh Thị Ánh Phương, giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. NCT vạn đò sông Hương tái định cư tại tỉnh Thừa Thiên Huế có những đặc trưng xã hội nào và nhu cầu trợ giúp của họ sau khi chuyển lên đất liền là gì?
  2. Thực trạng các hoạt động hỗ trợ NCT tại cộng đồng đang diễn ra như thế nào và mức độ đáp ứng nhu cầu thực tế của các hệ thống hỗ trợ chính thức và phi chính thức đạt mức độ nào?
  3. Giải pháp can thiệp công tác xã hội chuyên nghiệp nào có khả năng nâng cao hiệu quả hỗ trợ, giúp NCT vạn đò ổn định tâm lý - xã hội và hòa nhập bền vững?

Ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng được xác lập:

  • Giả thuyết H1: NCT vạn đò sông Hương tại các khu tái định cư mang những đặc trưng văn hóa - xã hội đặc thù và có nhu cầu cấp thiết về sinh kế thích ứng, chăm sóc y tế toàn diện và tái thiết lập các mối quan hệ xã hội trên bờ.
  • Giả thuyết H2: Các hoạt động hỗ trợ hiện hành tại địa phương còn mang tính sự vụ, đơn lẻ, thiếu tính chuyên nghiệp của công tác xã hội và chưa đáp ứng tương xứng với nhu cầu của nhóm xã hội đặc thù này.
  • Giả thuyết H3: Ứng dụng mô hình thực hành công tác xã hội nhóm theo định hướng tâm lý - xã hội sẽ tạo ra sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về năng lực tương tác, giảm thiểu cảm giác cô lập và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của NCT vạn đò.

Về khung lý thuyết, công trình tích hợp ba trụ cột: Lý thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow, Lý thuyết Hệ thống Sinh thái (Ecological Systems Theory) của Urie Bronfenbrenner kết hợp quan điểm Con người trong Môi trường (Person-in-Environment - PIE), và Lý thuyết Hoạt động của Robert J. Havighurst. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian tại 2 phường tái định cư trọng điểm (Hương Sơ và Phú Hậu) trong khung thời gian từ tháng 12/2020 đến tháng 10/2023 (thu thập dữ liệu cao điểm từ tháng 04/2022 đến tháng 05/2023), tạo nên đóng góp đột phá về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn can thiệp lâm sàng tại cộng đồng.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về hỗ trợ NCT tại cộng đồng phân bổ qua bốn dòng nghiên cứu chính:

Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào quan điểm y tế - lão khoa và chăm sóc tích hợp tại cộng đồng (Integrated Care for Older People - ICOPE). Gyasi và cộng sự (2019) chỉ ra rằng các chiều cạnh hỗ trợ xã hội đa chiều là yếu tố dự báo then chốt cho việc sử dụng dịch vụ y tế của người già có nguồn lực kinh tế hạn chế. Jeste và cộng sự (2018) cùng Siegler và cộng sự (2015) khẳng định chăm sóc phòng ngừa dựa vào cộng đồng và mô hình phối hợp giữa bác sĩ lâm sàng với nhân viên công tác xã hội là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy "lão hóa thành công" (successful aging) và "già hóa tại chỗ" (aging in place).

Dòng nghiên cứu thứ hai xem xét mạng lưới xã hội và sự phân hóa trách nhiệm an sinh giữa Nhà nước, thị trường và gia đình. Loughran (2018) cùng Zhou và Walker (2016) phân biệt rõ hai khái niệm "chăm sóc trong cộng đồng" (care in the community - cung cấp dịch vụ tại chỗ) và "chăm sóc bởi cộng đồng" (care by the community - huy động nguồn lực phi chính thức từ hàng xóm, người thân). Tại châu Á, Dai (2015) và Chi (2004) nhấn mạnh cấu trúc hỗ trợ gia đình truyền thống, trong khi các công trình của Stolt và cộng sự (2011) tại Thụy Điển, Broadbent (2014) tại Nhật Bản và Feng và cộng sự (2020) tại Trung Quốc lại chỉ ra xu thế tất yếu của việc tư nhân hóa và thị trường hóa dịch vụ an sinh xã hội nhằm giảm áp lực ngân sách. Tại Việt Nam, Trịnh Duy Luân khẳng định yêu cầu cấp thiết phải: "Cân đối lại hệ thống chính sách theo các chủ thể chăm sóc khác nhau. Ngoài chủ thể nhà nước, cần khai thác các nguồn lực tiềm năng của thị trường" [34, tr. 15].

Dòng nghiên cứu thứ ba tập trung vào mô hình tự lực và chăm sóc liên thế hệ. Đề án nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau theo Quyết định số 1533/QĐ-TTg và Quyết định 1336/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được Nguyễn Văn Đồng (2018) đúc kết là: "Hoạt động dựa vào cộng đồng, huy động nguồn lực từ phía cộng đồng để chăm sóc và trợ giúp NCT, dựa trên hai cách tiếp cận chính là liên thế hệ và tự giúp nhau nhằm tăng cường năng lực mọi mặt cho NCT" [6, tr. 28].

Dòng nghiên cứu thứ tư khảo cứu nhóm cư dân sống trên mặt nước (cư dân thủy diện/vạn chài). Tác giả Nguyễn Mạnh Hà định danh: "Cư dân vạn đò sông Hương là một cộng đồng đặc biệt bởi lối sống trên thuyền, tập trung thành các vạn từ thượng đến hạ nguồn và các nhánh của dòng sông Hương đoạn chảy qua thành phố Huế" [12, tr. 10]. Hoàng Bá Thịnh (2012) và Nguyễn Xuân Hồng (2016) chỉ rõ tính bất ổn trong sinh kế, tỷ lệ mù chữ cao và sự biệt lập không gian cư trú của cư dân thủy diện.

Các cuộc tranh luận học thuật nổi bật tập trung vào hai mâu thuẫn lớn:

  1. Cơ chế phúc lợi Nhà nước bảo trợ toàn phần đối lập với Tư nhân hóa/xã hội hóa dịch vụ: Trường phái Bắc Âu (Morel, 2007; Fersch & Jensen, 2012) xem dịch vụ công thuê ngoài là cách trao quyền lựa chọn cho người già, trong khi Broadbent (2014) cảnh báo tư nhân hóa quá mức làm suy giảm điều kiện việc làm và chất lượng chăm sóc người già nghèo.
  2. Trách nhiệm gia đình truyền thống đối lập với Dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp hóa: Văn hóa Á Đông (Nguyễn Hữu Minh, 2012; Hoàng Mộc Lan, 2017) coi con cái là chỗ dựa chính, nhưng trước biến đổi quy mô gia đình hạt nhân, mô hình "Làng" (Village model) tại Hoa Kỳ (Graham et al., 2017; Scharlach et al., 2012) và hệ thống chăm sóc tích hợp 5 trụ cột tại Nhật Bản (Hatano et al., 2017; Sakota, 2021) chứng minh sự cần thiết phải thể chế hóa mạng lưới hỗ trợ cộng đồng.

Vị trí của luận án trong y văn được định vị rõ nét khi so sánh với hai nghiên cứu quốc tế tiêu biểu:

  • So với công trình của Kluijtenaar (2019) về quá trình chuyển đổi lên bờ của cư dân thuyền bè tại Hồng Kông (vốn chỉ ra khoảng cách thế hệ do tiếp cận giáo dục nhưng dựa trên sự đào thải tự nhiên của sinh kế sông nước), luận án của Trương Thị Yến giải quyết bài toán tái định cư do chính sách can thiệp hành chính cưỡng bức quy hoạch tại Việt Nam, nơi thế hệ người già bị cắt đứt hoàn toàn môi trường sinh thái quen thuộc mà không có sự chuẩn bị tâm lý và kỹ năng.
  • So với khảo sát của Graham và cộng sự (2017) trên 1.753 thành viên từ 28 mô hình "Làng" tại Hoa Kỳ (tập trung vào người già có mức sống trung lưu tự chi trả phí hội viên), luận án giải quyết bối cảnh nhóm người cao tuổi nghèo đa chiều, mù chữ, có nguồn gốc thủy cư ở một quốc gia đang phát triển, từ đó xây dựng mô hình can thiệp nhóm công tác xã hội miễn phí dựa trên sự hỗ trợ tâm lý - xã hội sẻ chia.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp quan trọng vào việc bổ sung và kiểm chứng các lý thuyết xã hội học và công tác xã hội trong điều kiện một nhóm dân số chuyển đổi môi trường sống đặc thù:

  • Mở rộng Lý thuyết Hệ thống Sinh thái (Ecological Systems Theory) và Quan điểm Con người trong Môi trường (PIE): Khung lý thuyết của Urie Bronfenbrenner, Carel Germain và Alex Gitterman ban đầu xây dựng trên các môi trường sống ổn định. Luận án mở rộng lý thuyết này khi chỉ ra cơ chế "chấn thương sinh thái" (ecological rupture) khi cá nhân bị chuyển dịch đột ngột từ hệ sinh thái sông nước (nơi vi hệ thống gia đình gắn liền với chiếc thuyền và trung hệ thống vạn đò mang tính tương trợ khép kín) sang hệ sinh thái thổ cư đô thị (nơi ngoại hệ thống chính sách và đại hệ thống chuẩn mực đất liền áp đặt những quy tắc vận hành hoàn toàn xa lạ). Luận án chứng minh rằng năng lực thích ứng của NCT bị suy giảm nghiêm trọng nếu các hệ thống trung gian (nhân viên công tác xã hội, hội đoàn thể) không can thiệp kịp thời để tái lập sự cân bằng tương tác giữa Con người và Môi trường mới.
  • Thách thức và bổ sung Lý thuyết Hoạt động của NCT (Activity Theory): Robert J. Havighurst cho rằng việc duy trì vai trò và hoạt động xã hội sẽ tối ưu hóa mức độ hài lòng cuộc sống ở tuổi già. Tuy nhiên, luận án chứng minh rằng đối với NCT vạn đò tái định cư, việc gia tăng hoạt động thuần túy không tự động dẫn đến sự thỏa mãn nếu không giải quyết được rào cản "mặc cảm nguồn gốc vạn đò" và sự thiếu hụt vốn văn hóa (cultural capital). Các hoạt động hỗ trợ chỉ phát huy tác dụng khi được chuyển đổi từ hình thức hành chính áp đặt sang mô hình sinh hoạt nhóm bình đẳng, giải tỏa định kiến và khơi dậy sự tự tin nội tại.
  • Tái định hình Lý thuyết Nhu cầu Maslow trong bối cảnh tái định cư: Thứ bậc nhu cầu ở NCT vạn đò không vận hành theo trình tự tuyến tính đơn giản. Nhu cầu an toàn xã hội (giấy tờ pháp lý, quyền sử dụng đất, tránh bị kỳ thị) và nhu cầu thuộc về cộng đồng (duy trì quan hệ họ hàng xóm giềng vạn cũ) xuất hiện song hành và chi phối trực tiếp đến hiệu quả đáp ứng nhu cầu sinh lý cơ bản (thu nhập, chăm sóc y tế).

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp chặt chẽ 3 lý thuyết nền tảng (Lý thuyết Nhu cầu, Lý thuyết Hệ sinh thái xã hội, Lý thuyết Hoạt động) với Khung Chăm sóc tích hợp ICOPE của WHO. Khung phân tích vận hành dựa trên việc đánh giá tương tác giữa ba trục:

  1. Đặc trưng nhân khẩu - xã hội và năng lực nội tại của NCT vạn đò: Trình độ học vấn, tình trạng bệnh tật, lịch sử cư trú sông nước, mức độ gắn kết tâm lý với môi trường nổi.
  2. Cấu trúc cơ hội và hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội: Bao gồm Hệ thống chính thức (chính quyền phường, Trạm Y tế, Hội Người cao tuổi, Hội Phụ nữ, chính sách bảo trợ xã hội) và Hệ thống phi chính thức (gia đình, dòng họ, mạng lưới bạn thuyền cũ, tổ chức tôn giáo, nhà hảo tâm).
  3. Tiến trình can thiệp Công tác xã hội đa cấp độ: Đánh giá nhu cầu -> Thiết kế hoạt động -> Thử nghiệm can thiệp nhóm tâm lý - xã hội -> Lượng giá sự thay đổi.

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: Khung lý thuyết này áp dụng tối ưu cho các cộng đồng di dân tái định cư có tính chất đặc thù về sinh thái (từ môi trường tự nhiên biệt lập như sông nước, vùng lòng hồ thủy điện, vùng bãi ngang sang môi trường đô thị hóa) tại các quốc gia đang phát triển có mạng lưới an sinh xã hội bao phủ chưa hoàn thiện.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

  • Triết lý nghiên cứu: Luận án tiếp cận dựa trên nền tảng Thực tế Phê phán (Critical Realism) kết hợp giữa phương pháp Thực chứng (Positivism) nhằm lượng hóa các chỉ báo thực trạng, nhu cầu và phương pháp Diễn giải (Interpretivism) nhằm thấu hiểu sâu sắc trải nghiệm chuyển đổi văn hóa, rào cản tâm lý của NCT vạn đò.
  • Thiết kế phương pháp kết hợp (Mixed Methods): Áp dụng mô hình kết hợp tuần tự và hội tụ (Convergent Mixed Methods Design), đan xen giữa khảo sát định lượng quy mô mẫu đại diện, phỏng vấn sâu định chất và thực nghiệm hành động có sự tham gia (Participatory Action Research - PAR).
  • Thiết kế đa cấp độ (Multi-level design):
    • Cấp độ vi mô (Micro level): 200 NCT vạn đò sông Hương tại 2 khu tái định cư và các thành viên gia đình trực tiếp chăm sóc.
    • Cấp độ trung mô (Meso level): Cán bộ trạm y tế, tổ trưởng dân phố, cán bộ Hội Người cao tuổi, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, các tổ chức phi chính phủ tại địa bàn.
    • Cấp độ vĩ mô (Macro level): Cán bộ hoạch định chính sách cấp phường và thành phố Huế, chuyên gia công tác xã hội và an sinh xã hội.

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Chiến lược chọn mẫu:
    • Mẫu định lượng: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (Stratified Random Sampling) dựa trên danh sách hộ tái định cư tại phường Hương Sơ và phường Phú Hậu từ cuộc di dân 2009–2010. Tiêu chí chọn mẫu: NCT từ đủ 60 tuổi trở lên, có thời gian sống trên thuyền vạn đò trước khi lên bờ và hiện đang sinh sống liên tục tại khu tái định cư.
    • Mẫu định tính: Chọn mẫu chủ đích (Purposive Sampling) gồm 20 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) với NCT đại diện cho các nhóm độ tuổi (60-69, 70-79, 80+), giới tính, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh kinh tế (hộ nghèo, cận nghèo, không nghèo) và 6 cuộc phỏng vấn chuyên gia/cán bộ quản lý địa phương.
  • Bộ công cụ thu thập dữ liệu: Bảng hỏi cấu trúc chuẩn hóa đo lường 5 chiều cạnh hỗ trợ (y tế, sinh kế, hoạt động xã hội, pháp lý, giảm nhẹ thiên tai); Hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc; Biên bản quan sát tham dự; Bảng kiểm lượng giá trước và sau can thiệp thực nghiệm (Pre-test and Post-test Evaluation Sheets).
  • Tam giác đạc (Triangulation): Thực hiện tam giác đạc dữ liệu (thu thập từ NCT, người thân và cán bộ quản trị), tam giác đạc phương pháp (bảng hỏi, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm thực nghiệm) và tam giác đạc lý thuyết nhằm triệt tiêu tối đa thiên kiến đo lường.
  • Độ tin cậy và giá trị: Thang đo được thử nghiệm sơ bộ (pilot test) với 30 mẫu trước khi điều tra chính thức; hệ số nhất quán nội tại Cronbach's Alpha của các nhóm thang đo nhu cầu và mức độ nhận hỗ trợ đều đạt giá trị tin cậy $\alpha > 0.78$.

Data và phân tích

  • Đặc điểm nhân khẩu mẫu nghiên cứu: Tỷ lệ nữ giới chiếm 56,5%, nam giới chiếm 43,5%; tỷ lệ mù chữ và chưa học hết tiểu học chiếm áp đảo trên 72%; nguồn thu nhập chính phụ thuộc vào lao động tự do không ổn định (bốc vác, chẻ củi, mua bán ve chai, đan lát) hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào chu cấp của con cái.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences). Áp dụng thống kê mô tả (tần số, phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn), kiểm định Chi-square ($\chi^2$), kiểm định so sánh phi tham số Wilcoxon Signed-Rank Test và Paired Samples t-test để so sánh sự biến thiên các chỉ báo tâm lý - xã hội của nhóm thân chủ trước và sau can thiệp thực nghiệm.
  • Kiểm tra độ vững (Robustness checks): So sánh đối chứng biến thiên giữa địa bàn Hương Sơ và Phú Hậu; phân tầng đối chiếu theo nhóm tuổi (60–69 tuổi vs 70–79 tuổi vs 80 tuổi trở lên) và giới tính để kiểm soát các biến ngoại lai.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Nghịch lý thích ứng sinh kế và sự bất an kinh tế kéo dài: Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tái định cư lên bờ đã giải quyết được nhu cầu chỗ ở kiên cố (trên 85% hài lòng về nhà ở an toàn so với thuyền), nhưng lại đẩy NCT vào cuộc khủng hoảng sinh kế mới. Do mất đi môi trường đánh bắt và sông nước truyền thống, trong khi thiếu kỹ năng lao động trên đất liền, tỷ lệ NCT vạn đò có thu nhập độc lập dưới chuẩn nghèo chiếm tỷ lệ cao; hơn 68% cảm thấy thu nhập hiện tại không đủ đáp ứng các nhu cầu sống tối thiểu hàng ngày.
  2. Rào cản tiếp cận y tế do "khoảng trống thông tin" và chi phí gián tiếp: Mặc dù tỷ lệ có thẻ Bảo hiểm Y tế (BHYT) đạt mức cao nhờ chính sách bảo trợ hộ nghèo/cận nghèo, tỷ lệ NCT được khám sức khỏe định kỳ và lập hồ sơ quản lý bệnh mạn tính tại Trạm Y tế phường còn rất thấp (dưới 35%). Nguyên nhân sâu xa không chỉ do tài chính mà xuất phát từ thói quen tự chữa bệnh có từ thời sống trên sông nước, tâm lý e ngại cơ sở y tế và sự thiếu vắng mạng lưới nhân viên công tác xã hội đóng vai trò kết nối, điều phối ca bệnh.
  3. Đứt gãy mạng lưới quan hệ xã hội và tâm lý "mặc cảm vạn đò": Việc phân bổ nhà tái định cư xen kẽ và sự thay đổi cấu trúc không gian sống đã phá vỡ thiết chế "vạn chài" truyền thống. NCT trải qua cảm giác cô đơn xã hội sâu sắc, với hơn 60% NCT hiếm khi hoặc không bao giờ tham gia vào các sinh hoạt đoàn thể, câu lạc bộ tại địa phương do mặc cảm thất học, mặc cảm xuất thân "dân sông nước" và định kiến từ cư dân bản địa trên bờ.
  4. Hiệu quả đột phá từ thực nghiệm "Mô hình tâm lý xã hội sẻ chia": Nghiên cứu sinh đã trực tiếp thiết kế và chủ trì tiến trình can thiệp Công tác xã hội nhóm gồm 8 buổi sinh hoạt chuyên sâu với nhóm NCT vạn đò tại khu tái định cư Hương Sơ. Kết quả lượng giá trước - sau (Pre/Post-test) cho thấy sự biến chuyển có ý nghĩa thống kê vượt trội ($p < 0.05$): mức độ tự tin trong giao tiếp tăng từ điểm trung bình 1.8 lên 3.6 (thang điểm 4); mức độ lo âu, trầm cảm giảm rõ rệt; 100% thành viên nhóm thiết lập được mạng lưới chia sẻ cảm xúc và chủ động tham gia vào các hoạt động tương trợ lẫn nhau tại khối phố.

Implications đa chiều

  • Đóng góp lý thuyết: Luận án khẳng định mô hình hỗ trợ dựa trên tiếp cận Sinh thái - Tâm lý xã hội có giá trị giải thích và định hướng can thiệp vượt trội so với các mô hình trợ cấp hành chính đơn thuần; chứng minh vai trò trung gian then chốt của Công tác xã hội nhóm trong việc chuyển đổi "vốn xã hội đóng" (bonding social capital giữa những người cùng thuyền) thành "vốn xã hội bắc cầu" (bridging social capital với cộng đồng cư dân trên bờ).
  • Đổi mới phương pháp: Thiết lập quy trình can thiệp thực nghiệm 5 giai đoạn (Chuẩn bị/Tuyển chọn -> Đánh giá ban đầu -> Lập kế hoạch -> Can thiệp nhóm 8 chủ đề -> Kết thúc/Lượng giá) có thể chuẩn hóa thành cẩm nang thực hành cho nhân viên xã hội làm việc với các nhóm di dân nội địa và tái định cư tại Việt Nam.
  • Khuyến nghị chính sách: Đề xuất UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và ngành Lao động - Thương binh và Xã hội chuyển đổi cơ chế hỗ trợ từ "cứu trợ bị động" sang "an sinh tích hợp chủ động"; thành lập vị trí Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp tại các trạm y tế và trung tâm học tập cộng đồng cấp phường; thể chế hóa mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ gắn với bảo tồn di sản văn hóa vạn đò sông Hương.
  • Điều kiện khái quát hóa: Các khuyến nghị và mô hình can thiệp của luận án có khả năng chuyển giao cao cho các địa phương có đặc thù tương đồng như cộng đồng vạn chài tái định cư vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), sông Lam (Nghệ An), sông Lô (Tuyên Quang) và cộng đồng nhà nổi chuyển lên bờ tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ ra 3 giới hạn nghiên cứu chính:

  1. Giới hạn không gian và cỡ mẫu: Khảo sát tập trung tại hai khu tái định cư Hương Sơ và Phú Hậu thuộc thành phố Huế; chưa mở rộng so sánh định lượng với các khu tái định cư cư dân sông nước vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.
  2. Độ dài theo dõi can thiệp: Do giới hạn thời gian đào tạo tiến sĩ và ảnh hưởng gián đoạn của đại dịch Covid-19, quá trình lượng giá mô hình thực nghiệm nhóm mới dừng lại ở việc đánh giá ngay sau khi kết thúc 8 buổi can thiệp, chưa có điều kiện thực hiện nghiên cứu lặp lại (longitudinal follow-up) sau 12 và 24 tháng để kiểm định độ bền vững của hành vi.
  3. Công cụ đo lường chuyên biệt: Luận án chủ yếu sử dụng các thang đo xã hội học và công tác xã hội tổng quát; chưa tích hợp sâu các thang đo tâm thần học lâm sàng chuyên sâu (như GDS-15 đo trầm cảm người già hoặc MMSE đo suy giảm nhận thức).

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Hướng 1: Triển khai nghiên cứu đoàn hệ (Cohort study) theo dõi dọc 5–10 năm về sự biến đổi sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần của thế hệ người cao tuổi vạn đò thứ nhất và thứ hai sau tái định cư.
  • Hướng 2: Nghiên cứu ứng dụng giải pháp công nghệ số và hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc lập bản đồ nhu cầu an sinh và quản lý ca (case management) đối với NCT dễ bị tổn thương tại đô thị.
  • Hướng 3: Đánh giá kinh tế y tế (Health Economics) và phân tích chi phí - hiệu quả (Cost-Effectiveness Analysis) của mô hình chăm sóc tích hợp ICOPE khi nhân rộng tại các khu vực tái định cư khó khăn.
  • Hướng 4: Nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa về chiến lược thích ứng sinh thái của cư dân thủy diện chuyển đổi lên đất liền tại khu vực Đông Nam Á (Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Philippines).

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Luận án là công trình tiên phong tại Việt Nam tích hợp phương pháp công tác xã hội nhóm thực nghiệm với nghiên cứu nhân học - xã hội học về cư dân vạn đò; dự kiến đóng góp 3–5 bài báo khoa học chất lượng cao trên các tạp chí chuyên ngành thuộc danh mục Scopus/WoS và tạp chí đầu ngành trong nước (Tạp chí Xã hội học, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới).
  • Chuyển đổi thực tiễn và đào tạo: Cung cấp nguồn học liệu, nghiên cứu tình huống (case study) thực chứng cho chương trình đào tạo Cử nhân và Thạc sĩ ngành Công tác xã hội tại các trường đại học hàng đầu (ĐH KHXH&NV - ĐHQGHN, ĐH Khoa học - ĐH Huế); định hình chuẩn kỹ năng nghề nghiệp cho nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực lão khoa.
  • Tác động chính sách và xã hội: Trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học để Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế lồng ghép các can thiệp tâm lý - xã hội vào Nghị quyết phát triển an sinh xã hội địa phương giai đoạn 2025–2030, hỗ trợ nâng cao chất lượng cuộc sống cho hơn 1.000 hộ dân vạn đò tái định cư, thúc đẩy tiến trình xây dựng thành phố Huế trở thành đô thị di sản thông minh và nhân văn.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận một khung phân tích tích hợp liên ngành mẫu mực, hệ thống hóa các chỉ báo thao tác luận về tổn thương kép và tiến trình can thiệp thực nghiệm nhóm có đối chứng khoa học.
  • Nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội: Sở hữu cơ sở dữ liệu thực chứng và các khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm bịt kín các "khoảng trống an sinh", tối ưu hóa nguồn ngân sách trợ cấp xã hội và bảo hiểm y tế cho các nhóm dân cư yếu thế.
  • Cán bộ cơ sở, Nhân viên Công tác xã hội và Tổ chức Phi chính phủ: Nắm vững quy trình 5 bước tổ chức mô hình can thiệp nhóm "Tâm lý xã hội sẻ chia", các kỹ thuật hoạt náo, tham vấn và kết nối nguồn lực tại cộng đồng tái định cư.
  • Người cao tuổi vạn đò và gia đình: Thụ hưởng trực tiếp từ các mô hình câu lạc bộ, nâng cao năng lực tự chăm sóc, cải thiện sức khỏe tinh thần và xóa bỏ rào cản mặc cảm để hòa nhập trọn vẹn vào đời sống văn minh đô thị.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo và đột phá nhất của luận án là gì? Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc mở rộng Lý thuyết Hệ thống Sinh thái (Ecological Systems Theory) và quan điểm Con người trong Môi trường (PIE) vào việc luận giải hiện tượng "chấn thương sinh thái" khi một nhóm tiểu văn hóa đặc thù chuyển dịch không gian sống đột ngột từ mặt nước lên mặt đất. Luận án chỉ ra rằng sự thích ứng của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào năng lực nội tại mà bị chi phối bởi mức độ tương thích giữa hệ thống hỗ trợ chính thức và phi chính thức trong việc tái thiết lập "vốn xã hội bắc cầu".

2. Điểm mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây? So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ dừng lại ở khảo sát mô tả cắt ngang (như nghiên cứu của Kluijtenaar, 2019 hay Hoàng Bá Thịnh, 2012), luận án tạo đột phá bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp chuẩn mực với Thực nghiệm Công tác xã hội nhóm (Social Group Work Intervention). Nghiên cứu sinh đã trực tiếp vận hành tiến trình 8 buổi can thiệp có kiểm soát, đo lường sự biến thiên các chỉ số tâm lý - xã hội trước và sau can thiệp bằng các kiểm định thống kê chuyên sâu ($p < 0.05$).

3. Phát hiện bất ngờ nhất (counter-intuitive finding) từ dữ liệu thực tế là gì? Phát hiện bất ngờ nhất là: Tỷ lệ sở hữu thẻ BHYT cao (trên 90%) không đồng nghĩa với việc gia tăng sử dụng dịch vụ y tế chính thức. Dù Trạm Y tế nằm ngay trong khu tái định cư, NCT vạn đò vẫn duy trì tỷ lệ khám sức khỏe định kỳ cực thấp và có xu hướng tìm kiếm sự giúp đỡ từ các "chủ thể phi chính thức" (thầy lang quen trên sông cũ, tự mua thuốc, dựa vào kinh nghiệm dân gian) do rào cản tâm lý sợ bị phân biệt đối xử và sự thiếu vắng nhân viên xã hội hỗ trợ thủ tục.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) hoàn chỉnh không? Có. Luận án cung cấp một quy trình thực nghiệm chi tiết hóa tại Chương 5 bao gồm: Tiêu chí sàng lọc tuyển chọn thành viên nhóm; 8 giáo án can thiệp nhóm chuyên sâu (từ thiết lập mối quan hệ, giải tỏa cảm xúc, quản lý stress, kết nối nguồn lực y tế, đến lập kế hoạch duy trì); bảng câu hỏi lượng giá mục tiêu và biểu mẫu quan sát tương tác nhóm (sociogram), cho phép các cơ sở công tác xã hội dễ dàng chuẩn hóa và nhân rộng.

5. Luận án vạch ra chương trình nghiên cứu 10 năm tới như thế nào? Chương trình 10 năm được xác lập qua 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn 2024–2026: Đánh giá tác động dọc sau can thiệp và mở rộng mô hình nhóm sang các khu tái định cư đầm phá Thừa Thiên Huế; (2) Giai đoạn 2026–2030: Xây dựng hệ thống quản lý ca điện tử tích hợp khung ICOPE cho NCT di dân tại miền Trung; (3) Giai đoạn 2030–2034: Nghiên cứu so sánh khu vực Đông Nam Á về các giải pháp an sinh xã hội thích ứng với biến đổi khí hậu và di dời cư dân vùng nước ngập.

Kết luận

  1. Luận án đã phác họa một bức tranh toàn cảnh, chân thực và sâu sắc về thực trạng đời sống của người cao tuổi vạn đò sông Hương tại hai khu tái định cư Hương Sơ và Phú Hậu sau cuộc di dân lịch sử lên bờ.
  2. Công trình làm sáng tỏ "tổn thương kép" và khoảng trống lớn giữa nhu cầu an sinh đa chiều (sinh kế, chăm sóc y tế chuyên sâu, hòa nhập văn hóa) với năng lực đáp ứng còn mang tính hành chính, phân tán của các hệ thống hỗ trợ hiện hành.
  3. Luận án đã kiểm chứng, mở rộng thành công Lý thuyết Hệ thống Sinh thái, Lý thuyết Nhu cầu và Lý thuyết Hoạt động vào một bối cảnh chuyển đổi sinh thái - xã hội đặc thù chưa từng được nghiên cứu sâu trong Công tác xã hội tại Việt Nam.
  4. Thiết kế và thực nghiệm thành công "Mô hình tâm lý xã hội sẻ chia" thông qua phương pháp công tác xã hội nhóm, chứng minh bằng bằng chứng định lượng thực chứng về sự cải thiện vượt bậc về tâm lý, sự tự tin và khả năng kết nối mạng lưới xã hội của nhóm thân chủ ($p < 0.05$).
  5. Xác lập hệ thống khuyến nghị chính sách an sinh xã hội mang tính khả thi cao, mở đường cho việc tích hợp nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và quản trị cộng đồng tái định cư tại Việt Nam.
  6. Mở ra một hướng tiếp cận nhân văn, dựa trên quyền và tôn trọng phẩm giá con người, tạo tiền đề khoa học vững chắc cho các chương trình phát triển cộng đồng bền vững thích ứng với già hóa dân số trong những thập kỷ tới.