Luận án tiến sĩ dạy học xác suất thống kê hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế kĩ thuật tại trường đại học hàng hải việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu dạy học xác suất thống kê, hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế kỹ thuật tại Đại học Hàng hải Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Hàng hải Việt Nam

Chuyên ngành

Kinh tế kỹ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

213
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên kinh tế kỹ thuật

Hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên kinh tế kỹ thuật là một yếu tố quan trọng trong quá trình đào tạo. Việc này không chỉ giúp sinh viên có được kiến thức chuyên môn mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Đặc biệt, trong bối cảnh ngành kinh tế và kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ, việc hỗ trợ nghề nghiệp càng trở nên cấp thiết. Theo nghiên cứu, việc dạy học xác suất thống kê có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên. Điều này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các khái niệm cơ bản mà còn giúp họ áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc này sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho sinh viên trong việc tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp.

1.1. Tầm quan trọng của dạy học xác suất thống kê

Dạy học xác suất thống kê không chỉ là một môn học lý thuyết mà còn là một công cụ hữu ích trong việc phát triển kỹ năng phân tích và tư duy logic cho sinh viên. Môn học này giúp sinh viên hiểu rõ hơn về cách thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu, từ đó hỗ trợ họ trong việc ra quyết định trong môi trường làm việc. Việc áp dụng các phương pháp thống kê trong thực tiễn nghề nghiệp sẽ giúp sinh viên có khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp, từ đó nâng cao giá trị của họ trên thị trường lao động. Hơn nữa, việc dạy học xác suất thống kê còn giúp sinh viên phát triển các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp và tư duy phản biện, những yếu tố quan trọng trong bất kỳ lĩnh vực nào.

II. Các biện pháp hỗ trợ nghề nghiệp qua dạy học xác suất thống kê

Để hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế kỹ thuật, cần thiết phải áp dụng các biện pháp cụ thể trong quá trình dạy học xác suất thống kê. Một trong những biện pháp quan trọng là thiết kế các tình huống thực tiễn gắn với đặc thù nghề nghiệp. Việc này không chỉ giúp sinh viên áp dụng kiến thức vào thực tế mà còn tạo ra sự hứng thú trong học tập. Bên cạnh đó, việc rèn luyện năng lực mô hình hóa toán học cũng là một yếu tố quan trọng. Sinh viên cần được trang bị khả năng biểu diễn và xử lý các số liệu thống kê, từ đó giúp họ có thể giải quyết các vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp. Các biện pháp này không chỉ giúp sinh viên nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng nghề nghiệp, từ đó tạo ra cơ hội việc làm tốt hơn cho họ.

2.1. Thiết kế tình huống thực tiễn trong dạy học

Thiết kế tình huống thực tiễn trong dạy học xác suất thống kê là một phương pháp hiệu quả để sinh viên có thể áp dụng kiến thức vào thực tế. Việc này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các khái niệm mà còn tạo ra sự kết nối giữa lý thuyết và thực hành. Các tình huống thực tiễn có thể được xây dựng dựa trên các vấn đề cụ thể trong ngành kinh tế và kỹ thuật, từ đó giúp sinh viên phát triển khả năng phân tích và giải quyết vấn đề. Hơn nữa, việc này còn giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp, những yếu tố quan trọng trong môi trường làm việc hiện đại.

III. Đánh giá thực trạng và kết quả đạt được

Đánh giá thực trạng dạy học xác suất thống kê tại trường Đại học Hàng hải Việt Nam cho thấy nhiều sinh viên vẫn chưa nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết. Một số sinh viên cho biết họ gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Tuy nhiên, những sinh viên đã tham gia vào các hoạt động thực tiễn và dự án nghiên cứu cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong việc áp dụng kiến thức vào công việc. Điều này cho thấy rằng việc hỗ trợ nghề nghiệp thông qua dạy học xác suất thống kê là một hướng đi đúng đắn. Cần tiếp tục cải thiện phương pháp dạy học và tăng cường các hoạt động thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo.

3.1. Kết quả khảo sát sinh viên

Kết quả khảo sát cho thấy rằng sinh viên ngành kinh tế kỹ thuật có nhu cầu cao về việc áp dụng kiến thức xác suất thống kê vào thực tiễn. Nhiều sinh viên cho biết họ cảm thấy tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động thực tiễn sau khi học môn này. Tuy nhiên, vẫn còn một số sinh viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn học trong việc phát triển nghề nghiệp. Điều này cho thấy cần có sự thay đổi trong cách thức truyền đạt kiến thức và tạo động lực cho sinh viên trong việc học tập.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ dạy học xác suất thống kê hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế kĩ thuật tại trường đại học hàng hải việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” đã được thông qua vào tháng 2 năm 2007 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 - khoá X, đây là Chiến lược đầu tiên của Việt Nam về biển và cũng là kim chỉ nam để định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Cùng với việc thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các ngành hàng hải, các lĩnh vực kinh tế biển gắn với xây dựng và phát triển “Thương hiệu biển Việt Nam” theo định hướng Chiến lược biển có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta “Tiến nhanh ra biển, trở thành Quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”, như tinh thần Nghị quyết 4 về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” đã yêu cầu. Đánh giá sau hơn 10 năm triển khai và thực hiện Nghị quyết về "Chiến lược biển Việt Nam đến 2020", Hội nghị Trung ương 8 khoá XII (10/2018) đã tổng kết các kết quả khả quan đối với 5 lĩnh vực ưu tiên phát triển là khai thác, chế biến dầu khí; khai thác và chế biển hải sản; phát triển kinh tế hàng hải; phát triển du lịch và nghỉ dưỡng biển; tăng cường xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp.

Trong đó, lĩnh vực kinh tế hàng hải đã có bước phát triển đáng kể, giá trị sản lượng của ngành vận tải biển, dịch vụ cảng biển và đóng tàu đã liên tục gia tăng, với tốc độ tăng trong giai đoạn 2007 - 2010 là 22%/năm, giai đoạn 2011 - 2015 là 13%/năm. Đội tàu biển trong nước tính đến hết tháng 11/2017 có tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu tấn, đứng thứ 4 trong ASEAN và thứ 30 trên thế giới. Sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển tăng đều theo các năm (năm 2015 đạt 427,3 triệu tấn thì đến năm 2017 đạt khoảng 511,6 triệu tấn). Sau 10 năm thực hiện Chiến lược biển, toàn ngành đã có những nỗ lực rất lớn trong công tác đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ logistics, đảm bảo nhu cầu lưu thông hàng hóa bằng đường biển với mức tăng trưởng hàng hóa hàng năm từ 10% - 20%, nhiều cảng biển có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải 200.

Tuy vậy, tỷ trọng đóng góp chung của kinh tế hàng hải vào GDP cả nước còn rất nhỏ và có xu hướng giảm, với mức 1,05% vào năm 2010; 0,98% vào năm 2015 và 0,97% vào năm 2017. Đây cũng là tình trạng chung của việc đóng góp của kinh tế biển và ven biển vào GDP cả nước từ 48% năm 2005, giảm xuống còn 40,73% năm 2010 và năm 2017 ước đạt 30,19% theo Tổng luan an 2 cục Biển và Hải đảo Việt Nam phối hợp với Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) để tính toán các chỉ số GDP trong 10 năm thực hiện "Chiến lược biển Việt Nam đến 2020". [83] Phân tích kết quả và những hạn chế, Hội nghị Trung ương 8 cũng nêu rõ: việc thực hiện Nghị quyết vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, khó khăn và thách thức trong phát triển bền vững kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển chưa gắn kết hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó việc thực hiện chủ trương phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

Khoa học và công nghệ, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển chưa trở thành nhân tố then chốt trong phát triển bền vững kinh tế biển. [85] Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Trong đó, theo đánh giá của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam một nguyên nhân chủ quan có tầm ảnh hưởng nhiều nhất tới thực trạng đó là phát triển nguồn nhân lực biển. Nhân lực biển Việt Nam còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, cơ cấu nhân lực còn mất cân đối, đội ngũ nhân lực quản lý yếu về chuyên môn, nghiệp vụ.

Lực lượng thuyền viên vừa chỉ đáp ứng nhu cầu hạn chế trong nước, vừa chưa có khả năng xuất khẩu như Philippines, Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc… Đội ngũ nhân lực nghiên cứu sáng tạo còn ít, chất lượng chưa cao nên thành quả khoa học về biển và công nghệ phục vụ các hoạt động liên quan đến biển chưa đáp ứng được yêu cầu. Nguyên nhân chính là do đầu tư cho việc phát triển nhân lực biển còn chưa tương xứng; đội ngũ GV còn thiếu và yếu; cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu, phương tiện trang thiết bị, trình độ cán bộ phục vụ công tác đào tạo, phát triển nhân lực. vừa thiếu, vừa yếu, trong khi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo về biển chưa được thúc đẩy mạnh mẽ. [85] Khắc phục những khó khăn đó, trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, công tác phát triển nguồn nhân lực biển tại nước ta đã được quan tâm, đầu tư hiệu quả.

Chính phủ đã giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai rà soát các đề án phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng phát triển nguồn nhân lực biển thông qua đào tạo (ĐH và trên ĐH), dạy nghề, xây dựng cơ sở đào tạo và các chương trình đào tạo nhân lực cho quản lý, khai thác biển [85]. Việc chú trọng luan an 3 phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo tại các trường ĐHthể hiện bởi quá trình HTNN cho người lao động ngay khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường. Đào tạo trong nhà trường được thực hiện qua các hoạt động giáo dục, trong đó hoạt động DH đóng vai trò chủ yếu. Và như vậy, việc DH các môn học bao gồm các phân môn Toán ở trường ĐH, đặc biệt là các môn Toán ứng dụng, trong đó có XSTK đều phải thực hiện mục đích HTNN trong tương lai cho người học.

Đây không chỉ là một yêu cầu cấp thiết và chính đáng của TT mà còn liên quan đến vấn đề về lý luận của quá trình DH XSTK cho đối tượng là SV và chuẩn bị cho quá trình HTNN cho họ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu trên trước tiên phải thực hiện một số vấn đề liên quan như việc định hướng rõ mục tiêu DH, tiêu chí chọn lựa nội dung và đặc biệt là những PPDH được chọn lựa để truyền tải nội dung đó. Ngoài ra còn phải tính đến cách thức tổ chức hoạt động DH hay trang bị cơ sở vật chất trong nhà trường. Vấn đề này cần được nghiên cứu trước hết là về mặt lý luận đối với việc đào tạo nhân lực ngành hàng hải.

Thực tế DH XSTK ở trường ĐHHHVN đang đặt ra yêu cầu đào tạo SV nhằm HTNN cho họ. Đã có một số ít kinh nghiệm cho quá trình này nhưng chính những kinh nghiệm đó cần được soi sáng bằng lý luận khoa học. Để phục vụ TT tốt nhất là tìm những giải pháp cụ thể giúp cho việc đào tạo SV ngành hàng hải theo định hướng HTNN đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy XSTK. Nhìn lại mối liên quan giữa DH XSTK với quá trình HTNN thì chưa có công trình nào nghiên cứu tương đối đầy đủ và toàn diện vấn đề đó ở nước ta một cách hệ thống.

Vì những lý do nói trên mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “DẠY HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ HỖ TRỢ NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ, KĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM” 2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Do phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài nên trong phần tổng quan này luận án chỉ nghiên cứu việc DH XSTK gắn với NL, NLNN trong nhà trường từ cấp trung học trở lên. Trên thế giới 2.Dạy học Xác suất - Thống kê ở bậc trung học luan an 4 Trong quá trình DH TH nói chung và XSTK nói riêng trên thế giới hiện nay có một xu thế chung là: giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường thực hành và vận dụng vào TT. Vì có rất nhiều công trình bàn về chủ đề DH XSTK nhưng trong khuôn khổ có hạn của đề tài và với nguồn tư liệu có được, đề tài chỉ điểm qua dưới đây một số tác giả và công trình đại diện.

Trước tiên phải kể đến các nghiên cứu liên quan đến các cấp học trung học như: Henry M. (1994), [69], có nhiều bài viết về chủ đề DH XSTK. Các công trình của ông tập trung bàn đến các khái niệm và tính toán XS ở bậc trung học từ ba quan điểm: lịch sử, tri thức luận và didactic. Cách tiếp cận của ông nhằm mục đích giúp người học nắm được nghĩa của khái niệm, tránh việc dạy những kiến thức hình thức.

(2001), [65], trong khuôn khổ luận án tiến sĩ của mình đã xem xét vấn đề đưa vào ngay từ bậc trung học cơ sở các tình huống ngẫu nhiên, trong đó có sự tác động của mô hình hóa và giả lập với phần mềm Cabri-géomètre 2. (2005), [62], nghiên cứu vấn đề tiếp cận các luật ngẫu nhiên ở bậc trung học phổ thông. Tình huống đó giúp người học nhận ra những yếu tố thiết lập nên quan hệ giữa XS với TK, xây dựng các tình huống đưa XS vào giáo trình toán phổ thông. (2005), [82], với luận án tiến sĩ "Ưu điểm và hạn chế của quá trình giảng dạy TK ở trường trung học cơ sở", nghiên cứu việc DH TK ở lớp đầu cấp trung học cơ sở của Pháp.

Thừa nhận rằng đào tạo tư duy TK là một vấn đề mấu chốt, tác giả xem xét những điều kiện và những ràng buộc mà người giáo viên phải chịu trong thực hành DH các nội dung của TK. Câu hỏi mà tác giả đặt ra để nghiên cứu là "tại sao các điều kiện, các ràng buộc rất khác nhau trong nhiều thể chế mà thực tế DH thì hầu như đều thiên về việc rút gọn TK vào các tính toán số học?". Định nghĩa suy luận TK và sáu loại hình suy luận TK do Garfield và Gal đề xuất được nghiên cứu và áp dụng cho các đối tượng học sinh phổ thông, còn đối với SV chuyên nghiệp những nghiên cứu như vậy còn ít được quan tâm đến [68]. Người ta rất ít đề cập tới cách thức mà SV suy luận như thế nào khi các em đối mặt với dữ liệu TK chuyên ngành nói riêng và dữ liệu TK nói chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Dạy học xác suất thống kê hỗ trợ nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế kỹ thuật tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam" của tác giả Mai Văn Thi, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Kiều và TS. Phạm Văn Trạo, tập trung vào việc áp dụng phương pháp dạy học xác suất thống kê nhằm nâng cao khả năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành kinh tế kỹ thuật. Nghiên cứu này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các khái niệm thống kê mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để áp dụng vào thực tiễn công việc sau khi tốt nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến giáo dục và quản lý trong lĩnh vực kinh tế, bạn có thể tham khảo các tài liệu như "Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Sinh Viên Về Chất Lượng Dịch Vụ Tại Trường Đại Học Ngoại Thương", nơi nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ, hay "Luận án tiến sĩ về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập TP.HCM trong điều kiện tự chủ", cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý tài chính trong giáo dục. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ về quản lý đào tạo theo đặt hàng tại Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội", một nghiên cứu liên quan đến quản lý đào tạo trong lĩnh vực giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề trong giáo dục và phát triển nghề nghiệp.