Chương 1: Vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tổ chức quản lý sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần cơ khí và kết cấu thép Sóc Sơn. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần cơ khí và kết cấu thép Sóc Sơn. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm vốn kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất, kinh doanh. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn kinh doanh. Vốn đƣợc dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhƣ: đối tƣợng lao động, tƣ liệu lao động và trả lƣơng cho ngƣời lao động. Vốn kinh doanh thƣờng xuyên vận động và tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau trong các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nó có thể là tiền, máy móc thiết bị, nhà xƣởng, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm… khi kết thúc một vòng luân chuyển thì vốn kinh doanh lại trở về hình thái tiền tệ. Nhƣ vậy, với số vốn ban đầu, nhờ có hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, vốn không chỉ đƣợc bảo tồn mà còn đƣợc tăng lên. Nhƣ vậy có thể hiểu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản đƣợc huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp, mà còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Đặc điểm của vốn kinh doanh - Vốn phải đƣợc biểu hiện bằng một lƣợng giá trị thực của những tài sản đƣợc sử dụng để sản xuất ra một lƣợng giá trị sản phẩm khác. - Vốn phải đƣợc tích tụ và tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn sẵn có mà còn phải tìm cách huy động thêm các nguồn vốn. 7 - Vốn đƣợc biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ, tuy nhiên tiền chi là dạng tiềm năng của vốn.
Để tiền đƣợc gọi là vốn thì đồng tiền đó phải đƣợc vận động vì mục đích sinh lời. - Vốn là hàng hóa đặc biệt, tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng, vì vậy các chủ thể tạm thời thừa vốn hoặc tạm thời thiếu vốn có thể thỏa thuận để thỏa mãn nhu cầu của mình. - Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn đƣợc biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình. - Vốn phải có giá trị về mặt thời gian.
Nền kinh tế thị trƣờng ảnh hƣởng bởi rất nhiều yếu tố nhƣ: lạm phát, khủng hoảng.mà sức mua của đồng tiên ở những thời điểm khác nhau thì khác nhau. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định và đƣợc quản lý chặt chẽ. Tùy từng loại hình doanh nghiệp mà ngƣời sở hữu vốn có đồng thời là ngƣời sử dụng vốn hay không. Nhƣng trong trƣờng hợp nào thì vốn cũng phải gắn với chủ sở hữu bởi lẽ sử dụng vốn nhƣ thế nào sẽ liên quan đến lợi ích mà vốn mang lại cho doanh nghiệp đó.
Phân loại vốn kinh doanh Vốn kinh doanh có thể đƣợc phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể nhƣ sau: * Căn cứ vào nguồn hình thành vốn: Về cơ bản, vốn kinh doanh đƣợc hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. - Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra và phần vốn bổ sung đƣợc hình thành từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm = Giá trị tổng tài sản - Tổng nợ phải trả Trong đó, vốn chủ sở hữu này sẽ bao gồm các khoản: + Với doanh nghiệp nhà nƣớc thì đó là nguồn vốn do NSNN cấp ban đầu và cấp bổ sung, còn với doanh nghiệp tƣ nhân thì nguồn vốn này do chủ doanh nghiệp bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp. Đối với Công ty cổ phần hoặc liên doanh thì nó sẽ bao gồm phần đóng góp của các chủ đầu tƣ hoặc cổ đông.
8 + Phần lợi nhuận để lại tái đầu tƣ sau các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Nợ phải trả: Bao gồm các khoản đi vay của các cá nhân hay các tổ chức tín dụng dƣới mọi hình thức hoặc do phát hành trái phiếu, các khoản phải trả ngƣời bán, trả cho Nhà nƣớc, khoản ngƣời mua ứng trƣớc, phải trả cho lao động trong doanh nghiệp. * Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn: Dựa trên tiêu thức này, vốn kinh doanh đƣợc chia làm hai loại: Vốn cố định và vốn lƣu động. - Vốn cố định của doanh nghiệp Vốn cố định: Là lƣợng vốn đầu tƣ trƣớc để hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp.
Quy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến lƣợng TSCĐ đƣợc hình thành và ngƣợc lại, đặc điểm hoạt động của TSCĐ sẽ chi phối đặc điểm luân chuyển của vốn cố định. Từ mối liên hệ này, ta có thể khái quát những đặc thù của vốn cố định nhƣ sau: + Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên hình thái hiện vật. Có đƣợc đặc điểm này là do TSCĐ tham gia vào phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì vậy vốn cố định là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ và cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tƣơng ứng.
+ Vốn cố định đƣợc luân chuyển giá trị dần dần, từng phần trong các chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhƣng tính năng và công suất của nó bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng, thì giá trị của nó cũng bị giảm đi, theo đó vốn cố định đƣợc tách thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất tƣơng ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ đƣợc luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dƣới hình thức chi phí khấu hao và đƣợc tích luỹ lại thành quỹ khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hoá đƣợc tiêu thụ, quỹ khấu hao này sẽ đƣợc sử dụng để tái sản xuất TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Phần còn lại của vốn cố định vẫn đƣợc "cố định" trong đó, tức là giá trị còn lại của tài sản cố định. Hình thái hiện vật của vốn cố định là TSCĐ.
9 Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn đƣợc luân chuyển vào giá trị sản phẩm và đƣợc thu hồi dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tƣ ban đầu vào TSCĐ lại dần dần giảm xuống. Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lúc TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch vào giá trị sản phẩm đã sản xuất và khi đó vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Vốn cố định thƣờng có chu kỳ vận động dài, sau nhiều năm mới có thể thu hồi đủ số vốn đầu tƣ bỏ ra ban đầu. Trong thời gian dài nhƣ vậy, đồng vốn luôn bị đe doạ bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm thất thoát vốn nhƣ: Do kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ đƣợc, do giá bán thấp hơn giá thành.
Do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức độ hao mòn vô hình của TSCĐ vƣợt qua mức dự kiến về mặt hiện vật cũng nhƣ về mặt giá trị. Do yếu tố lạm phát trong nền kinh tế. Khi lạm phát xảy ra, giá trị thực của đồng vốn bị thay đổi, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá và điều chỉnh lại giá trị tài sản để tránh tình trạng mất vốn kinh doanh theo tốc độ lạm phát trên thị trƣờng. + VCĐ hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tƣơng đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tƣ nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hƣởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của VCĐ lại tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Vốn lƣu động của doanh nghiệp: Vốn lƣu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền đƣợc ứng ra để hình thành các tài sản lƣu động sản xuất, tài sản lƣu động lƣu thông và một phần để trả tiền công cho ngƣời lao động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục.
10 Tài sản lƣu động sản xuất bao gồm ở khâu dự trữ sản xuất nhƣ: Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ…Tài sản lƣu động ở khâu sản xuất nhƣ sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm. Các tài sản lƣu động ở khâu lƣu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trƣớc. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông luôn vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành liên tục thuận lợi. Khác với tài sản cố định, trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lƣu động của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm, hàng hoá.
Do đó, phù hợp với các đặc điểm của tài sản lƣu động, vốn lƣu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự trữ sản xuất, sản xuất và lƣu thông. Quá trình này đƣợc diễn ra liên tục và thƣờng xuyên lặp lại theo chu kỳ và đƣợc gọi là quá trình tuần hoàn chu chuyển của vốn lƣu động.