CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về thuốc lá và cai nghiện thuốc lá 1. Một số khái niệm về thuốc lá • Luật phòng chống tác hại thuốc lá Việt Nam 2012, Điều 2 đưa ra khái niệm: “Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác”16. • Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá16.
Ảnh hưởng của thuốc lá trên các bệnh lý phổi 1. Thành phần hóa học của khói thuốc lá Phân tích hóa học cho thấy trong khói thuốc lá tồn tại trên 7000 loại hóa chất dưới 2 dạng: dạng hạt nhỏ và dạng khí17. Dạng hạt nhỏ: bao gồm các chất gây nghiện, điển hình là nicotin và hắc ín. Tính chất gây nghiện của thuốc lá được cơ quan kiểm soát dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp loại tương tự như các chất ma túy, heroin và cocain.
Các hỗn hợp màu nâu trong đó có chứa các chất như benzen, benzopyren. Nhiều thực nghiệm trên súc vật đã chứng minh thành phần hạt của khói thuốc lá là chất gây ung thư ở đường hô hấp và các tổ chức khác. Dạng khí: Có chứa các chất độc: Monoxytcacbon (CO), những khí độc khác tương tự như khí thải xe ô tô, xe máy khi chúng đốt nhiên liệu như amoniac, dimethylnitrosamin, formandehyt, hydrogen, cyanide, acrolein. Trong hơn 7000 loại hóa chất, có ít nhất 250 loại có hại cho sức khỏe, 69 chất đã được chứng minh là nguyên nhân gây ung thư chủ yếu là các chất thơm có vòng như Benzopyren, nitrosamin, arsenic, nickel, chrom các đồng vị phóng xạ.
Các chất này tác động lên niêm mạc đường hô hấp gây nên tình 5 trạng viêm mạn tính, phá hủy tổ chức và biến đổi tế bào dẫn đến ác tính hóa. Nhiều chất gây ung thư trong khói thuốc lá đã được mô tả trong đó có polyciclic aromatic hydrocacbon (PHA), 4methylnitro samino-1-(3-pyridyl)- 1-butanone(NNK) và N-nitro-sonomicotine(NNN) trong khói thuốc là nguyên nhân quan trọng gây ung thư phổi. Trong khói thuốc lá còn có các chất khác gây ung thư khi chúng kết hợp với nhau. Một số chất trong khói thuốc lá là tác nhân kích thích khối ung thư gây bệnh tiến triển nhanh hơn.
Tác hại của khói thuốc lá đối với sức khỏe con người Hút thuốc lá gây ảnh hưởng đến gần như tất cả các cơ quan trong cơ thể, gây nhiều bệnh đặc biệt các bệnh lý về hô hấp, tim mạch và ung thư,… và gây suy giảm sức khỏe của người hút thuốc lá nói chung17 18. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong thế kỉ 20 trên thế giới đã có 100 triệu người chết do các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá. Mỗi năm thuốc lá gây ra gần 8 triệu ca tử vong, trên 7 triệu ca tử vong này là liên quan đến hút thuốc lá chủ động và khoảng 1,2 triệu ca là do hút thuốc lá thụ động. Nếu các biện pháp phòng chống tác hại thuốc lá không được thực hiện thì trong thế kỉ này sử dụng thuốc lá sẽ giết chết 1 tỷ người19 20.
Hút thuốc lá và các bệnh lý hô hấp Có đủ bằng chứng cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc lá với các triệu chứng và bệnh lý hô hấp dưới đây: 17 18 - Các bệnh lý hô hấp cấp tính, bao gồm viêm phổi - Làm giảm sự tăng trưởng phổi ở trẻ em và thanh thiếu niên - Khởi phát sớm sự suy giảm chức năng phổi - Khởi phát sớm các triệu chứng hô hấp liên quan đến suy giảm chức năng phổi ở trẻ em, thanh thiếu niên (ho, khạc đờm, khò khè, khó thở) - Các triệu chứng liên quan tới hen (khò khè, …) ở trẻ em, thanh thiếu niên 6 - Các triệu chứng hô hấp chính ở người lớn (ho, khạc đờm, khò khè, khó thở) - Kiểm soát hen kém - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) và tử vong do BPTNMT - Ung thư phổi và tử vong do ung thư phổi - Suy giảm chức năng phổi ở trẻ sơ sinh có mẹ hút thuốc trong thời kỳ mang thai • Ung thư phổi Ung thư phổi là một trong những loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Phần lớn dữ liệu điều tra dịch tễ học ung thư phổi là từ các nước phát triển, nơi hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chủ yếu. Một số nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy hút thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu gây ung thư phổi và tử vong vì ung thư7. Các bằng chứng khoa học cho thấy mối liên quan đáng kể giữa hút thuốc lá chủ động và ung thư phổi18 21.
Nguy cơ phát triển ung thư phổi gia tăng với thời gian hút thuốc lá và số lượng thuốc lá hút hàng ngày21. Không có ngưỡng hút thuốc mà việc phơi nhiễm không có rủi do1. Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khả năng phát triển ung thư phổi ở người hút thuốc lá bao gồm tuổi bắt đầu hút thuốc, mức độ hít khói thuốc, hàm lượng nicotine và nhựa thuốc lá (tar) và việc sử dụng thuốc lá không đầu lọc22. Tỷ lệ nguy cơ tương đối xuất hiện ung thư phổi giữa người hút thuốc và không hút thuốc là 15 nói chung và là 25 đối với người nghiện thuốc lá nặng23.
Nguy cơ tích luỹ ung thư phổi ở những người nghiện thuốc lá nặng có thể tới 30% khi so sánh với nguy cơ 1% hoặc thấp hơn ở những người không hút thuốc bao giờ24 25. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ở Châu Âu cũng cho thấy xu hướng gia tăng nguy cơ ung thư phổi với tăng số lượng thuốc hút tính theo bao năm26. 7 Việc cai thuốc lá giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư phổi so với tiếp tục hút thuốc, nguy cơ ngày càng giảm hơn khi thời gian duy trì cai thuốc càng dài. Tuy nhiên, thậm chí sau một thời gian cai thuốc dài, nguy cơ ung thư phổi ở những người đã từng hút thuốc vẫn cao hơn so với những người không bao giờ hút thuốc18 27.
Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy việc cai thuốc lá sau khi chẩn đoán ung thư phổi có liên quan với việc cải thiện sức khỏe28, giúp giảm nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật ung thư phổi29. Cai thuốc lá cũng giúp cải thiện đáp ứng của bệnh nhân ung thư phổi với điều trị hóa chất và xạ trị30. Mặc dù việc cai thuốc đóng vai trò rất quan trọng đối với những người hút thuốc mắc ung thư phổi, tuy nhiên có khoảng 10-13% bệnh nhân vẫn tiếp tục hút thuốc ở thời điểm 6 tháng sau khi chẩn đoán ung thư phổi31 32 33. Tuổi trẻ, trầm cảm và có thành viên khác trong gia đình hút thuốc là những yếu tố có liên quan đến việc khó cai thuốc34.
Điều trị cai nghiện thuốc lá cho những bệnh nhân mắc ung thư phổi tương tự như đối với những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và theo dõi thường được kết hợp với các lần khám điều trị khác, thiết kế sự tư vấn cụ thể để tăng cường sự tự tin, giảm trầm cảm và ý định tự sát. • Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một bệnh lý viêm hệ thống, tiến triển, được đặc trưng bởi sự giới hạn luồng khí thở. Đây là một trong những bệnh lý hô hấp phổ biến nhất với tỷ lệ mắc bệnh từ 8-13% ở người trưởng thành Châu Âu và Bắc Mỹ với nhiều trường hợp bệnh vẫn còn bị bỏ sót chẩn đoán35. Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng và tăng dần theo tuổi35.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuyên, Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Viết Nhung tần suất BPTNMT trên người > 40 tuổi tại Việt Nam là 4,2% (nam 7,1% và nữ 1,9%)36. 8 Có một mối liên quan mạnh mẽ giữa hút thuốc và sự phát triển bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, khoảng 40% bệnh nhân mắc BPTNMT ở những nước phát triển là những người hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy hút thuốc liên quan đến sự suy giảm chức năng phổi37. Hút thuốc trong thời kỳ thanh thiếu niên ức chế sự phát triển bình thường của chức năng phổi trong quá trình tăng trưởng và giảm thể tích tối đa giây đầu tiên (FEV1) trong giai đoạn sau của cuộc đời38.
Hút thuốc lá làm giảm tuổi bắt đầu suy giảm FEV1,38 và cũng làm tăng nhanh tốc độ suy giảm FEV1 ở giai đoạn sau thời kỳ trưởng thành39 40 41. Cai thuốc lá vẫn là phương pháp can thiệp hiệu quả nhất giúp giảm sự suy giảm chức năng phổi ở bệnh nhân BPTNMT,42 làm chậm tốc độ suy giảm FEV1 hàng năm về mức tương đương những người không hút thuốc37. FEV1 ban đầu tăng lên sau khi cai thuốc lá43 44 và những người cai thuốc đáp ứng tốt hơn với các thuốc giãn phế quản41 và corticoid đường hít45. Trong một nghiên cứu can thiệp đa trung tâm gần đây về điều trị giãn phế quản ở bệnh nhân BPTNMT, 40% bệnh nhân BPTNMT mức độ vừa đến nặng vẫn còn hút thuốc46.
Số liệu tương tự cũng được báo cáo từ các nghiên cứu dịch tễ học47. Những người hút thuốc lá mắc BPTNMT có những đặc điểm đặc biệt có thể làm cho họ khó khăn hơn khi cai thuốc lá47 48 49. Các nghiên cứu đã cho thấy những người hút thuốc mắc BPTNMT có mức độ phụ thuộc nicotine cao hơn và số điếu thuốc hút hằng ngày nhiều hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với những người hút thuốc không mắc BPTNMT47 48. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy cứ thêm 1 điểm Fagerstrom về mức độ phụ thuộc nicotine sẽ làm tăng 11% khả năng phát triển BPTNMT49.
Một số nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về động cơ cai thuốc giữa những người hút thuốc mắc BPTNMT và những người hút thuốc khác, nhưng những người hút thuốc mắc BPTNMT có mức độ tự tin cai thuốc thấp hơn làm giảm khả năng cai thuốc 9 của họ50. Trầm cảm phối hợp cũng gặp ở khoảng 44% bệnh nhân BPTNMT nhập viện và trầm cảm phổ biến hơn ở những người hút thuốc mắc BPTNMT so với những người hút thuốc không mắc BPTNMT51. Một số phân tích gộp các thử nghiệm lâm sàng đã khẳng định sự kết hợp tư vấn thay đổi hành vi với thuốc điều trị hỗ trợ cai là điều trị cai thuốc hiệu quả nhất đối với những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính52 53 54 55.