Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Thực trạng nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên nam nữ trước kết hôn. Chương 3: Xu hướng biến đổi quan điểm về hôn nhân và gia đình và một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên tiền hôn nhân hiện nay 12 Phần II: nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của Vấn đề nghiên cứu 1. Lý luận nhận thức Macxit Nhận thức và sự hiểu biết của con người từ đâu mà có? Con người có nhận thức được chân lý khách quan không và quá trình nhận thức của con người thế nào đã và đang là vấn đề mà triết học duy vật và duy tâm tranh luận. Theo quan điểm duy vật, nhận thức của con người là sự phản ánh của thế giới khách quan - Thế giới khách quan được con người nhận thức từ cảm giác, tri giác, biểu tượng đến tư duy trừu tượng.
Nhờ tư duy trừu tượng mà con người hiểu biết được bản chất của các sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên và xã hội, nắm được các quy luật và tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát triển của nó - tiếp cận được với chân lý. Chủ nghĩa duy vật Macxit cũng chỉ ra rằng, sở dĩ con người nhận thức được thế giới khách quan, do con người có lao động. Nhờ lao động mà đầu óc con người được phản ánh những hiện tượng, những sự kiện, những quá trình của thế giới hiện thực. Con người hiểu biết thế giới hiện thực.
Nhưng sự phản ánh này không chỉ là sự sao chép đơn thuần thế giới hiện thực mà còn là sự phản ánh bản chất của chúng với những mối liên hệ bên trong, tất yếu, tự nhiên của nó. Con người, vì vậy, ngày càng khám phá bản chất của các sự vật, hiện tượng, phát hiện thêm các quy luật, tiến gần hơn đến chân lý tuyệt đối. Như vậy, nhận thức của con người là một quá trình từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ hiểu biết ít đến hiểu biết nhiều - đến chân lý. áp dụng lý luận nhận thức vào việc nghiên cứu quá trình tiếp cận một hiện tượng, một sự vật của nhóm xã hội - thanh niên tiền hôn nhân là việc không dễ.
Vì vậy, làm rõ hiểu biết của họ về ý nghĩa, tầm quan trọng của luật, nội dung các điều khoản chính yếu của luật và việc áp dụng luật trên thực tế là những việc cần làm. ở đây, xuất phát từ những nguyên lý và lý luận nhận thức cần làm rõ thực trạng, nguyên nhân sự hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của nhóm thanh niên tiền hôn nhân với quan điểm duy vật, biện chứng, phát triển, lịch sử và hệ 13 thống. Điều này đòi hỏi khi làm rõ hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình cần làm rõ những đặc điểm sinh học của nhóm, hoàn cảnh kinh tế, xã hội của gia đình và cộng đồng mà họ đang sống; trình độ học vấn, khả năng tiếp cận thông tin, mức độ tham gia các hoạt động xã hội mà những thành viên trong nhóm hiện có. Ngoài ra, theo quan điểm lịch sử và phát triển, hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình còn được nghiên cứu trong sự so sánh với thời gian.
ở đây, thời gian được tính theo độ tuổi của khách thể nghiên cứu đồng thời tính theo các giai đoạn phát triển về nhận thức của cộng đồng trong đổi mới. Điều này sẽ giúp cho việc làm rõ những thay đổi trong nhận thức, hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân về Luật Hôn nhân và gia đình qua các giai đoạn phát triển của lịch sử cũng như qua quá trình phát triển sinh học và xã hội ở mỗi con người. Hôn nhân và gia đình là lĩnh vực luôn vận động, phát triển và biến đổi. Theo đó, cơ cấu gia đình, chức năng gia đình, vai trò và vị trí của gia đình cũng như những quan niệm về giá trị, chuẩn mực trong gia đình đã có nhiều biến đổi theo thời gian.
Nghiên cứu hiểu biết của thanh niên tiền hôn nhân với Luật Hôn nhân và gia đình phải hết sức căn cứ vào những biến đổi của gia đình và những biến đổi của cộng đồng xã hội để xem xét những biến đổi trong nhận thức của nhóm xã hội đặc thù này. Trong điều kiện mở cửa, đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, quan niệm thoáng đãng hơn về tình dục, tình yêu và hôn nhân cũng là những yếu tố phải tính tới khi nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật, biện chứng và lý luận nhận thức Macxit. Các lý thuyết xã hội học đặt cơ sở cho việc nghiên cứu a. Lý thuyết Hành động xã hội Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội đã được các nhà xã hội học như V.Znaniecki và một số nhà xã hội học khác đưa ra.
Nội dung chủ yếu của lý thuyết này coi hành động xã hội có cơ sở xuất phát từ nhu cầu, động cơ của cá nhân xã hội và kết quả của nó là sự thiết lập các quan hệ xã hội. 14 Các lý thuyết gia khẳng định khi mỗi cá nhân tham gia vào cuộc sống xã hội, họ tất yếu phải thực hiện các hành động xã hội. Hành động xã hội xuất hiện ngay từ khi con người được hình thành, nhu cầu hợp tác để tồn tại và phát triển đã làm xuất hiện quan hệ tương tác giữa các chủ thể hành động; đến lượt mình, các hành động xã hội lại tạo kết quả là các mối quan hệ cá nhân - cá nhân, cá nhân - xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà cá nhân thực hiện hành động, ngược lại, họ hành động nhằm đạt được các mục đích riêng của bản thân và những mục đích chung.
Mặc dù mỗi nhà xã hội học trên đều tiếp cận hành động xã hội ở các góc độ khác nhau, song họ đều thống nhất ở một số điểm: - Hành động xã hội bao giờ cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức dù ở mức độ khác nhau, có nghĩa là chủ thể hành động luôn gắn cho hành động một ý nghĩa chủ quan nhất định. - Hành động xã hội có tính định hướng mục đích - Hành động xã hội là hành động hướng tới người khác Trên thực tế, không phải hành động xã hội nào cũng có tính xã hội hay đều là hành động xã hội. Những hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không tính đến hành vi của người khác như việc hai người đi xe đạp vô tình va quệt vào nhau trên đường phố không phải là hành động xã hội, hành động giống nhau của các cá nhân trong một đám đông như khi mọi người cùng mặc áo mưa do đột nhiên trời đổ mưa cũng không được coi là hành động xã hội. Với những hành động như thế này, chúng ta thấy hầu như không có sự tham gia của yếu tố ý thức mà đó chỉ là sự phản ứng một cách tự nhiên trước hoàn cảnh mà thôi.
Thêm nữa, những hành động này thường diễn ra bất chấp ý chí hay mong muốn chủ quan của chúng ta. Các nhà xã hội học gọi đây là hành động vật lý - bản năng. Chúng ta cũng có thể so sánh hành động của loài vật với hành động của con người. Chẳng hạn, khi một con thú bị đói, nó sẽ ăn một cách ngấu nghiến những gì mà nó có thể ăn được chỉ để thoả mãn cơn đói.
Trong khi đó, ngay cả khi con người bị bỏ đói, họ cũng ăn theo văn hoá, theo thói quen; cách ăn của họ 15 cũng hướng đến những người xung quanh, nghĩa là làm sao để việc ăn của mình không gây phản cảm cho người khác và họ lựa chọn thức ăn phù hợp với họ; ví dụ như một nhà tu hành theo Phật giáo thì khi đói vẫn chỉ lựa chọn thức ăn chay, hay một người theo ấn Độ giáo sẽ không chọn món thịt bò để ăn khi đói. So sánh như vậy để thấy sự khác biệt giữa con người và con vật khi thực hiện hành động. Rõ ràng, hành động ăn của con người trong trường hợp nêu trên được coi là hành động xã hội, vì nó có tính chất văn hoá, tính chủ định và sự định hướng đến người người khác của các cá nhân xã hội khi thực hiện hành động. Lý thuyết hành động xã hội ra đời nhằm phản ứng lại quan điểm của các nhà hành vi luận cho rằng chúng ta không thể nghiên cứu được những yếu tố bên trong qui định hành vi của các cá nhân mà chỉ có thể biết đến những phản ứng bên ngoài.
Theo các nhà xã hội học, chúng ta không đơn thuần chỉ nghiên cứu phản ứng của các cá nhân trước các kích thích, mà chúng ta hoàn toàn có thể nghiên cứu những gì đang diễn ra bên trong, những gì tiềm ẩn trong mỗi cá nhân có tác dụng thôi thúc các nhân hành động để đạt mục đích. Để minh chứng cho quan điểm của mình, các nhà xã hội học đã đưa ra mô hình sau: Hoàn cảnh Nhu cầu Động cơ Chủ thể Công cụ Mục phương đích tiện [11, 137] Mô hình trên cho thấy cấu trúc của hành động xã hội, những nhân tố của hành động xã hội được đề cập đến trong mô hình này có mối quan hệ nhân - quả khăng khít với nhau. Xem xét các nhân tố của hành động xã hội, chúng ta có thể nhận thấy mỗi hành động xã hội của con người có “điểm gốc” là nhu cầu, động cơ của chủ thể, và “điểm ngọn” là mục đích cần đạt được của chủ thể đó. Tất nhiên, chu trình của hành động chịu sự chi phối của yếu tố hoàn cảnh thực hiện hành động của chủ thể.
Chúng ta hãy quay lại ví dụ về một cá nhân khi bị đói, 16 họ có nhu cầu là được ăn. Tuy nhiên nếu anh ta ở nơi mà anh ta chỉ có một mình, anh ta có thể ăn nhanh hơn để đạt đích "được ăn no" nhanh hơn; ngược lại, khi anh ta đang ở trong một đám đông, anh ta sẽ lựa chọn cách ăn từ tốn hơn, vì hành động của anh ta lúc này là định hướng vào đám đông nơi anh ta đang tham gia. Điều này cho thấy, hành động xã hội mà con người thực hiện không phải là cách con người phản xạ trực tiếp đối với tác nhân kích thích, mà ở đây, họ phản ứng qua các biểu trưng có ý nghĩa, có nghĩa là họ phản ứng một cách gián tiếp.