đặt vấn đề giáo dục pháp luật mà chỉ cần phổ biến pháp luật để mọi người tự tìm hiểu để có cách cư xử đúng. Quan điểm này một mặt, xuất phát từ chỗ cho rằng bản thân pháp luật của nhà nước ta đã có vai trò giáo dục. Vai trò này có giá trị tư tưởng lớn và nó sẽ tác động, ảnh hưởng đến nhận thức, ý thức của con người. Mặt khác đánh giá thấp vai trò của nó ý thức pháp luật, tình cảm đối với pháp luật của người dân trong việc thực hiện hành vi hợp pháp mà pháp luật có quy định.
Quan niệm thứ năm cho rằng, giáo dục pháp luật là một dạng trong hệ thống giáo dục chung, nó có mối quan hệ với tất cả các dạng khác nhau của hệ thống. Cùng với điều đó và vì điều đó mà giáo dục pháp luật hướng đến điều chỉnh được mối quan hệ giữa nó với những người khác. Giáo dục pháp luật liên kết một cách hữu cơ và tương hỗ với các dạng giáo dục khác, trước hết là các dạng giáo dục có cùng mục đích tác động lên hành vi của con người, lên sự hợp lý của hành vi trong mối quan hệ với xã hội. Đó chính là các dạng giáo dục chính trị, đạo đức.
Mỗi quan niệm nêu trên đều mới chỉ thấy được một khía cạnh nhất định của giáo dục pháp luật, chưa thấy được đầy đủ vai trò giáo dục chung của pháp luật đối với nhận thức và hành vi xã hội của cá nhân. Và nếu nói rộng ra, ở đây, vai trò, giá trị xã hội của pháp luật, tính "trội" lẫn tính "phụ thuộc" của pháp luật 11 z chưa được đánh giá đúng mức. Thậm chí, có tác giả còn nhận xét rằng, đó là những quan niệm phiến diện, giản đơn, một chiều, chưa thấy hết đặc thù của sự tác động hoặc giá trị xã hội vốn có của pháp luật. Vì vậy, các quan niệm ấy đã vô tình hoặc cố ý hạ thấp vai trò và giá trị xã hội của pháp luật.
Quả thật, nếu cho rằng chỉ cần làm tốt việc giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức là đủ thì chưa đánh giá hết tính độc lập của pháp luật (các quy phạm, các nguyên tắc pháp lý) so với các chuẩn mực, nguyên tắc xã hội khác, trong đó có những chuẩn mực, nguyên tắc chính trị, đạo đức. Đúng là, trong quá trình nghiên cứu về kiến thức pháp luật, người ta có phân loại nó thành những kiến thức có thể thay thế được. Loại kiến thức có thể thay thế được thuộc loại kiến thức pháp luật phổ thông, thông thường hàng ngày mà cá nhân có thể cảm nhận được, hình dung được qua các loại hình giáo dục khác, như giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và kể cả trong giáo dục chuyên môn. Nhưng ở đây, sự cảm nhận, hình dung chung nhất này về pháp luật chỉ ở mức độ thấp, tạm thời chấp nhận được trong kiến thức pháp luật của cá nhân ở một giai đoạn nào đó, như trong những hoàn cảnh trước đây của đất nước.
Ngày nay, với đòi hỏi mang tính quy luật: "Mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật" [37] thì sự hiểu biết pháp luật một cách đại thể không thể đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống xã hội. Do vậy, về mặt lý luận, không thể dừng lại ở những quan niệm như trên về giáo dục pháp luật mà cần có quan niệm nhất quán, đầy đủ, khoa học về giáo dục pháp luật. Trong khoa học pháp lý, giáo dục pháp luật được hiểu trên cơ sở các nội dung mang tính lý luận và thực tiễn sau: Thứ nhất, giáo dục pháp luật là sự tác động của nhân tố chủ quan, do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành. Quá trình hình thành ý thức của con người là quá trình ảnh hưởng, tác động thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan, trong đó, các điều kiện khách quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, còn các nhân tố chủ quan đóng vai 12 z trò là những nhân tố tác động.
Nhân tố ảnh hưởng có thể là tự phát, theo chiều này hoặc chiều khác và mức độ "đậm, nhạt" có thể khác nhau. So sánh với nó, nhân tố trực tiếp hơn và bao giờ cũng là nhân tố tự giác, có ý thức, có chủ định theo một hướng nhất định. Vì giáo dục pháp luật là sự tác động của nhân tố chủ quan, do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành nên, bản thân chủ thể giáo dục pháp luật, với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của mình, luôn luôn đặt ra mục đích nhất định để từ đó tiến hành những biện pháp, hình thức nhằm hình thành ở chủ thể những yếu tố chủ quan, trước hết là tri thức, hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn về pháp luật. Đó là hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của nhiều chủ thể (các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhà trường.
Đây chính là thiên chức của giáo dục tiến bộ, trong đó có giáo dục pháp luật. Thứ hai, giáo dục pháp luật là hình thức cụ thể, là "cái riêng, cái đặc thù" trong mối quan hệ với giáo dục nói chung, là "cái chung, cái phổ biến". "Cái riêng, cái đặc thù" của giáo dục pháp luật được thể hiện ở các điểm sau: - Là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm pháp luật ở mỗi cá nhân (là đối tượng của giáo dục pháp luật), hình thành thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, để từ đó cá nhân tuân thủ pháp luật một cách tự giác, có thái độ và hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật. Như vậy, mục đích của giáo dục pháp luật là hình thành "môi trường chủ quan" thuận lợi, phù hợp để từ đó chủ thể có định hướng hành vi xã hội của mình theo những "chuẩn" mà pháp luật quy định, góp phần tích cực tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật.
Mục đích của giáo dục pháp luật không chỉ mang ý nghĩa tư tưởng mà còn mang ý nghĩa thực tiễn thiết thực, rõ ràng và rất cụ thể. - Giáo dục pháp luật có nội dung riêng của mình. Đó là sự tác động định hướng để chuyển tải nội dung pháp luật (nguyên tắc, giá trị của pháp 13 z luật, các quy phạm pháp luật). Những nội dung này phản ánh trong nó về các hiện tượng nhà nước (phương diện pháp lý của nó) và các hiện tượng xã hội khác như quan hệ xã hội, trách nhiệm xã hội, được thể hiện thông qua hình thức pháp lý.
Chẳng hạn, khi giáo dục về trách nhiệm của con người trong xã hội, giáo dục đạo đức đề cập phương diện đạo lý của trách nhiệm, còn giáo dục pháp luật đề cập nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý với những dạng hành vi bắt buộc, loại quan hệ pháp luật đặc biệt. - Xét trên các vấn đề chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật thì giáo dục pháp luật cũng có những nét riêng. Chủ thể giáo dục pháp luật, trước hết phải có tri thức cần thiết về pháp luật và đời sống pháp luật, phải hiểu biết được đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh, môi trường của đối tượng, phải biết cách truyền tải những nội dung về pháp luật đến đối tượng và phải là hình mẫu trong việc tuân theo pháp luật. Đặc biệt, chủ thể giáo dục pháp luật phải có khả năng minh họa những vấn đề xảy ra trong đời sống mà có ý nghĩa pháp lý dưới những thuật ngữ, những nguyên tắc, những quy định pháp luật cụ thể.
Thiếu khả năng này ở chủ thể giáo dục pháp luật thì hoạt động giáo dục pháp luật mất đi ý nghĩa thiết thực của nó. - Xét về vị trí vai trò trong hệ thống giáo dục thì giáo dục pháp luật có vai trò chi phối rất lớn đối với các dạng giáo dục chính trị - xã hội khác. Giáo dục pháp luật trong nhiều trường hợp là yếu tố hỗ trợ mạnh mẽ cho các loại hình giáo dục khác như giáo dục thẩm mỹ, giáo dục đạo đức, tâm lý. Thứ ba, giáo dục pháp luật không đồng nhất với khái niệm hình thành ý thức pháp luật của cá nhân.
Sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của điều kiện khách quan lẫn sự tác động định hướng của nhân tố chủ quan. Hay nói cách khác, ý thức pháp luật của cá nhân với tư cách là chủ thể của các quan hệ xã hội được hình thành, phát triển dưới sự ảnh hưởng của kinh nghiệm cá nhân và thông tin thu nhận được từ các "kênh" thông tin pháp luật, 14 z trong đó có "kênh" giáo dục pháp luật. Trong quá trình này, những hiện tượng, sự kiện "ngược chiều", trực diện có ảnh hưởng rất lớn (ví dụ, cán bộ trực tiếp thi hành pháp luật mà vi phạm pháp luật). Tuy nhiên, nếu hoạt động giáo dục pháp luật thể hiện đúng định hướng, với bản lĩnh khoa học, khách quan thì không phải lúc nào các hiện tượng "ngược chiều" này cũng gây được ảnh hưởng lớn.
Như vậy, giáo dục pháp luật dù chỉ là một yếu tố của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở cá nhân con người nhưng lại là yếu tố đóng vai trò chủ đạo bởi nó là quá trình tác động của nhân tố chủ quan. Mặt khác, khái niệm giáo dục pháp luật và hình thành ý thức pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau. Giáo dục pháp luật nội hàm trong khái niệm rộng lớn hơn nó là hình thành ý thức pháp luật. Sự phân biệt này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Đó là vì, suy cho cùng thì ý thức pháp luật của cá nhân bị quy định bởi các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bởi phong tục, tập quán truyền thống, bởi thực tiễn pháp lý. Song, không thể nói rằng yếu tố chủ quan không có vai trò gì. Khi mà tri thức, tình cảm và thói quen xử sự theo pháp luật chưa hình thành đẩy đủ và các điều kiện khách quan chưa thuận lợi thì nhân tố chủ quan hết sức quan trọng. Việc tăng cường nỗ lực chủ quan, bằng hoạt động có tổ chức, kế hoạch, có bước đi thích hợp, có định hướng, có ý thức tự giác cao của chủ thể giáo dục pháp luật sẽ góp phần quan trọng giúp hình thành sớm tri thức, tình cảm, thái độ và nếp sống tuân theo pháp luật ở đối tượng giáo dục.