phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận hệ thống thông tin kế toán quản trị trong quyết định ngắn hạn. Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống thông tin kế toán quản trị phục vụ cho quyết định quản trị ngắn hạn trong công ty TNHH Cao Su Minh Thành. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán quản trị cho quyết định quản trị ngắn hạn tại công ty TNHH Cao Su Minh Thành. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN 1.
THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Kế toán quản trị Với chức năng chính của kế toán là cung cấp thông tin kinh tế về một tổ chức. Trong các doanh nghiệp, thông tin kế toán không những cần thiết cho ngƣời ra quyết định quản lý ở bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tƣợng ở bên ngoài doanh nghiệp. Do có phạm vi cung cấp và phục vụ thông tin khác nhau nên kế toán doanh nghiệp đƣợc chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Khoản 3 điều 4 của Luật kế toán đã định nghĩa: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [12]. Theo thông tƣ 53/2006/TT-BTC hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp ngày 16/6/2006 của Bộ tài chính: “ Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, nhƣ: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tƣ, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lƣợng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tƣ ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;. nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nƣớc chỉ hƣớng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phƣơng pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện”.
Đối tƣợng nhận thông tin kế toán quản trị là Ban lãnh đạo doanh nghiệp và những ngƣời tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm, đặc điểm và tính chất của thông tin kế toán quản trị trong doanh nghiệp Thông tin kế toán quản trị là tập hợp các sự kiện, các sự kiện này sẽ trở thành thông tin hữu ích khi và chỉ khi nó làm thay đổi các quyết định về tƣơng lai của ngƣời nhận nó. Theo thông tƣ 53/2006/TT-BTC hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp ngày 16/6/2006 của Bộ tài chính: “Nguyên tắc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị: Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể đƣợc thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp đƣợc toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị” [2, tr.
“Doanh nghiệp đƣợc sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị” [2, tr. Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận nên thông tin kinh tế của doanh nghiệp càng đa dạng và phức tạp hơn các tổ chức khác. Về mặt pháp lý, kế toán tài chính mới chỉ quan tâm đến những thông tin mang tính tổng quát, trong khi đó, quá trình quản lý lại đòi hỏi phải đi sâu vào các yếu tố cấu thành những thông tin tổng quát đó. Để đáp ứng yêu cầu này của hoạt động quản lý, kế toán quản trị cần cung cấp các thông tin hết sức cụ thể, chi tiết nhƣ: - Cơ cấu chi phí phát sinh tại một bộ phận của doanh nghiệp.
- Các yếu tố cấu thành giá bán của một đơn vị sản phẩm. - Những nguyên nhân ảnh hƣởng đến kết quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức… Thông tin kế toán quản trị không chỉ là thông tin về quá khứ, hiện tại mà còn bao gồm các thông tin ƣớc tính cho tƣơng lai (kế hoạch, dự toán…) Thông tin kế toán quản trị không chỉ là các thông tin theo thƣớc đo giá trị nhƣ trong kế 9 toán tài chính mà còn bao gồm nhiều loại thông tin theo thƣớc đo hiện vật và thời gian lao động… Đặc điểm thông tin và yêu cầu thông tin: Thông tin kế toán quản trị hƣớng về tƣơng lai, do đó nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn các phƣơng án, đề án dự trù cho một sự kiện sắp xẩy ra và quyết định một cách nhạy bén để nắm bắt nhanh cơ hội kinh doanh. Chính vì vậy thông tin kế toán cung cấp cho nhà quản trị thƣờng mang tính linh loạt, kịp thời và mang tính phù hợp với quyết định. Phạm vi thông tin và đặc điểm báo cáo: Kế toán quản trị cung cấp thông tin cụ thể, chi tiết của từng bộ phận, từng khâu công việc trong tiến trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó báo cáo của kế toán quản trị mang tính chất đặc biệt, phù hợp với yêu cầu của nhà quản trị - không lệ thuộc vào các quy định về chế độ báo cáo của nhà nƣớc.
Báo cáo của kế toán quản trị đƣợc lập một cách thƣờng xuyên – theo nhu cầu sử dụng thông tin của nhà quản trị. Tính chất của thông tin kế toán quản trị: - Tính chất chung: Thông tin kế toán quản trị cũng là thông tin kế toán nên nó có các tính chất cơ bản của thông tin kế toán đó là: Là thông tin động về tình hình chu chuyển tài sản trong một doanh nghiệp, toàn bộ nội dung về hoạt động sản xuất kinh doanh từ khâu đầu đến khâu cuối cùng đều đƣợc phản ánh sinh động qua các thông tin kế toán. Luôn là những thông tin về hai mặt của mỗi hiện tƣợng, mỗi quá trình nhƣ vốn, các khoản tăng, các khoản giảm, chi phí, kết quả lợi nhuận. Những thông tin này có ý nghĩa rất lớn với việc ứng dụng hạch toán kinh doanh mà nội dung cơ bản là độc lập về tài chính, lấy thu bù chi, kích thích vật chất và trách nhiệm vật chất.
Mỗi thông tin kế toán thu đƣợc là kết quả của quá trình có tính 2 mặt: Thông tin kiểm tra và kiểm tra. Vì vậy khi nói đến kế toán cũng nhƣ thông tin kế toán không thể tách rời hai đặc trƣng cơ bản là thông tin và kiểm tra. - Tính chất riêng: Tính chất đặc thù nội bộ của các sự kiện, thông tin kế toán. 10 Tính linh hoạt, thích ứng với sự biến đổi hàng ngày của các sự kiện các quá trình kinh tế.
Tính chất phi tiền tệ đƣợc chú trọng nhiều hơn trong các báo cáo quản trị. Tính pháp lý đối với tài liệu gốc và tính hƣớng dẫn thông tin trên các báo cáo quản trị. Không có chuẩn mực chung. Vai trò của thông tin kế toán quản trị trong doanh nghiệp đối với sự quá trình ra quyết định của doanh nghiệp Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, các nhà quản trị phải trao đổi cập nhật thông tin kế toán.
Họ không thể ra các quyết định mà không có thông tin kế toán. Hơn nữa để hoạt động có hiệu quả các nhà quản trị còn đòi hỏi thông tin kế toán phải đầy đủ, kịp thời, chính xác nhằm thực hiện tốt các chức năng và hoạt động quản trị của mình. Vai trò cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch và dự đoán Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt đƣợc và vạch ra các bƣớc thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đó. Các kế hoạch này có thể dài hay ngắn hạn.
Kế hoạch mà nhà quản trị thƣờng lập thƣờng có dạng dự toán. Dự toán là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động và sử dụng những nguồn lực sẵn có để đạt các mục tiêu. Trong số các bảng dự toán về lƣu chuyển tiền tệ là quan trọng nhất, vì nếu thiếu tiền do không đƣợc dự trù doanh nghiệp sẽ không có khả năng tạo ra lợi nhuận theo kế hoạch, dù kế hoạch xây dựng rất hợp lý. Do đó, để chức năng lập kế hoạch và dự toán có tính hiệu lực và khả thi cao thì chúng phải dựa trên những thông tin kế toán hợp lý và có cơ sở.
Vai trò cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện Với chức năng thực hiện, nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt các yếu tố giữa tổ chức, con ngƣời với nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch một cách hiệu quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này nhà quản lý cũng cần có nhu cầu rất lớn đối với thông tin kế toán, nhất là thông tin kế toán quản trị. Nhờ có thông tin do kế 11 toán quản trị cung cấp mà nhà quản trị mới có thể đề ra quyết định đúng đắn trong quá trình lãnh đạo hoạt động hàng ngày, phù hợp với mục tiêu chung. Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá Nhà quản trị sau khi lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá thực hiện nó.
Phƣơng pháp thƣờng dùng là so sánh số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện, để từ đó nhận diện các sai lệch giữa kết quả đạt đƣợc với mục tiêu đã đề ra. Để làm đƣợc điều này nhà quản trị cần đƣợc cung cấp các báo cáo thực hiện, có tác dụng nhƣ một bƣớc phản hồi giúp nhà quản trị có thể nhận diện những vấn đề cần phải điều chỉnh cho hợp lý. Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt mà là sự kết hợp cả ba chức năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá, tất cả đều đòi hỏi phải có quyết định.