CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu Hành vi quan hệ tình dục không an toàn là việc quan hệ tình dục giữa một người với một bạn tình có nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh lây truyền qu đường tình dục mà không có các biện pháp bảo vệ (7). Không thường xuyên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục là việc không sử dụng bao cao su từ khi bắt đầu đến khi kết thúc ở tất cả các lần quan hệ tình dục (8). Hành vi nguy cơ cao làm lây nhiễm HIV là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm và những hành vi khác dễ làm lây nhiễm HIV (9).
Giám sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi (HSS+) là việc thu thập thông tin liên tục, có hệ thống các câu hỏi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong các nhóm đối tượng được lựa chọn của giám sát trọng điểm HIV để theo dõi tỷ lệ và chiều hướng nhiễm HIV qua các năm nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS (10). Dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) được viết tắt của cụm từ Pre- Exposure Prophylaxis, có nghĩa là điều trị dự phòng trước phơi nhiễm. PrEP giúp phòng ngừa lây nhiễm HIV trong cơ thể bằng cách ngăn cản sự phát triển chất xúc tác sinh học (enzim) là chất mà HIV dùng để tạo ra các bản sao vi rút mới. PrEP là sự kết hợp của 2 loại dược phẩm thuốc kháng vi rút HIV (ARV) là Tenofovir disoproxil fumarate (TDF) 300 mg và Emtricitabine (FTC) 200 mg trong một viên nén với liều dùng mỗi ngày một viên (11).
PrEP rất an toàn, không có tác dụng phụ chỉ khoảng 10% người sử dụng gặp một số tác dụng phụ nhẹ, thoáng qua lúc đầu, như tiêu chảy, buồn nôn, chán ăn, đau quặn bụng hoặc đầy hơi. Một số người có thể chóng mặt hoặc đau đầu. Các tác dụng phụ này thường kéo dài trong vài ngày hay vài tuần, nhưng thường không quá 1 tháng mà không cần ngừng PrEP. Đặc biệt, 5 phương pháp này an toàn với hầu hết người sử dụng, bao gồm cả phụ nữ mang thai và cho con bú (11).
Nhóm nguy cơ cao là nhóm người có khả năng phơi nhiễm hay lây truyền HIV cao hơn. Trong hầu hết trường hợp, nhóm MSM, người chuyển giới, người tiêm chích, người hành nghề mại dâm và khách hàng của họ là những nhóm có nguy cơ phơi nhiễm HIV cao hơn những nhóm khác (11). Sử dụng chất khi quan hệ tình dục (Chemsex) là cụm từ chỉ việc sử dụng có chủ ý các chất hóa học thường là các chất ma túy kích thích trong hoạt động tình dục, chủ yếu ở nhóm MSM nhằm tăng sự tự tin trong quan hệ tình dục, tăng khoái cảm tình dục, có thể quan hệ tình dục với thời gian dài hơn và với nhiều bạn tình hơn. Các chất được sử dụng ngay trước hoặc trong lúc quan hệ tình dục (12).
Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Một số mạng xã hội phổ biến tại Việt Nam như Facebook, Zalo, Youtube, Instagram,. Khái niệm chung về nam quan hệ tình dục đồng giới 1. Định nghĩa nam quan hệ tình dục đồng giới Thuật ngữ “Nam có quan hệ tình dục đồng giới - MSM” được định nghĩa là những nam giới có quan hệ tình dục với nam giới hay có trải nghiệm về hấp dẫn tình dục với người nam cùng giới khác.
Thuật ngữ này mô tả một hiện tượng thuộc về hành vi hơn là một nhóm người cụ thể. Cụm từ này thường được dùng nhiều hơn trong khung cảnh liên quan đến HIV, mô tả một hành vi có nguy cơ hơn là mô tả khuynh hướng tình dục của cá nhân. Những người nam có quan hệ tình dục đồng giới không chỉ bao gồm những người tự nhận là người đồng tính (gay) và người lưỡng tính (bi-sexual), mà còn bao gồm cả những người đàn ông tự nhận là dị tính (heterosexual) nhưng có quan hệ tình dục cùng giới (14). Một số người nam có quan hệ tình dục với nam nhưng lại trong mối quan hệ tình cảm hay hôn nhân với 6 người nữ.
Có người nam bán dâm cho nam giới, mặc dù xu hướng tính dục của họ không thấy hấp dẫn với nam giới (15). Phân loại nam quan hệ tình dục đồng giới Có thể phân loại MSM theo nhiều cách dưới đây: - Theo đặc tính tình dục (đồng tính nam (gay), đồng tính (homosexual), tình dục khác giới (Heterosexual); tình dục cả hai giới (Bisexual), chuyển đổi giới tính hoặc những khái niệm tương tự mà không quan tâm đến hành vi tình dục (14); - Theo công khai của bản thân về đặc tính tình dục (công khai là đồng tính nam hoặc chưa công khai) (14); - Theo bạn tình của đối tượng (14); - Theo các lý do nguyên nhân dẫn đến việc chọn lựa bạn tình (ý thích tự nhiên của bản thân, bị cưỡng ép, ép bức hoặc bị áp lực, được thúc đẩy làm mại dâm, do hoàn cảnh, hoặc chỉ là vui chơi, phải sống trong nơi toàn nam giới) (14); - Theo vai trò trong việc quan hệ tình dục cụ thể (cho, nhận, cả hai, không có vai trò, tình dục bằng đường miệng, thủ dâm cùng nhau hoặc hành động khác) (14); - Theo đặc tính hành vi có liên quan đến giới tính (nam/nữ, tính nam hoặc tính nữ, trang phục giống nữ hoặc trang phục theo giới tính đang mang) (14). Theo khoa học, không thể chọn lựa khuynh hướng tình dục mà nó chịu tác động phức tạp bởi các yếu tố bẩm sinh và môi trường. Rất khó để có thể thay đổi được khuynh hướng tình dục, kể cả khi người đó muốn dùng ý chí, chưa có bằng chứng khoa học nào khẳng định được điều này.
Một số người do những áp lực xã hội cố tỏ ra là đã thay đổi khuynh hướng tình dục của mình nhưng trong thực tế thì họ không thể làm được điều đó. Nhận dạng tình dục (Sexual identity) là: Ý thức của mỗi người tự nhìn nhận về khuynh hướng tình dục của mình bị hấp dẫn bởi người cùng giới, người khác giới hay cả hai giới trên cơ sở trải nghiệm, cảm giác, suy nghĩ của chính họ chứ không dựa trên cơ sở giới hay giới tính của bạn tình. Một người có thể tự coi mình là dị tính, hoặc đồng tính, hoặc lưỡng tính (8). Hành vi tình dục không an toàn của nam quan hệ tình dục đồng giới 1.
Khái niệm hành vi tình dục không an toàn của nam quan hệ tình dục đồng giới Hành vi tình dục không an toàn của nam quan hệ tình dục đồng giới là hành vi không thường xuyên sử dụng bao cao su từ khi bắt đầu đến khi kết thúc khi quan hệ tình dục qua đường hậu môn với bạn tình nam (16). Vậy hành vi tình dục không an toàn của nam quan hệ tình dục đồng giới trong đề tài nghiên cứu này là hành vi không thường xuyên sử dụng bao cao su tất cả các lần khi quan hệ tình dục qua đường hậu môn với bạn tình nam trong vòng một tháng qua. Thực trạng hành vi tình dục không an toàn của nam quan hệ tình dục đồng giới Nhiều nghiên cứu đã đưa ra một số nguyên nhân khiến cộng đồng ở nhóm MSM đối mặt với việc bị mắc HIV cao như không biết về HIV, mắc STIs, kỳ thị về đồng tính, miễn cưỡng đến các cơ sở y tế và hành vi quan hệ tình dục mà không sử dụng các biện pháp bảo vệ (bao cao su, chất bôi trơn hoặc PrEP) (14, 17). Tại các quốc gia có nền thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ QHTD không sử dụng BCS lần gần đây nhất được ghi nhận trên MSM dao động từ 27 - 78% (18).
Thực trạng này cũng xảy ra tại các quốc gia có thu nhập cao, theo nghiên cứu nối tiếp từ năm 2012 - 2016 tại Thẩm Dương, Trung Quốc trên 1.036 MSM và được chẩn đoán 16,2% nhiễm HIV (19). Tỷ lệ MSM quan hệ qua đường hậu môn không dùng BCS trong năm qua tăng từ 42,1% (2012) lên 63,4% (2016); 61,9% trong tổng số MSM dương tính với HIV có quan hệ qua đường hậu môn không dùng BCS (19). Hơn thế nữa qua một điều tra cũng cho thấy hành vi không sử dụng BCS khi QHTD ở MSM được phát hiện có liên quan đến nhiều yếu tố như số bạn tình nam (20); xu hướng tính dục, thường gặp ở người song tính hơn đồng tính (21), tình trạng bất lợi về tâm lý (20), gặp khó khăn tài chính (20), sử dụng ma túy tại các câu lạc bộ (20), cảm xúc tình dục (22). Trong những năm trở lại đây, việc sử dụng các chất ma túy trong MSM, chủ yếu là sử dụng methamphetamine với việc không sử dụng BCS khi QHTD được đặc biệt quan tâm (21).
8 Tại Việt Nam, các khảo sát online cho thấy có 45% MSM không sử dụng BCS khi quan hệ qua đường hậu môn lần gần đây nhất và 36% ít nhất một lần không sử dụng BCS trong ba tháng qua (23). Nghiên cứu của Lê Quang Sơn (2014) về các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm MSM tại tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy có 67,6% MSM có QHTD trong một tháng qua, trong đó tỷ lệ sử dụng BCS trong tất cả các lần QHTD chỉ đạt 49,5% (22). Tại Tiền Giang, nghiên cứu của Huỳnh Thị Tố Trinh (2020) với tỷ lệ không sử dụng BCS khi quan hệ với bạn tình nam qua đường hậu môn lần gần đây là 64,1% (24). Tuy nhiên, ở nghiên cứu của Dương Phương Hiếu (2020) tại Thái Nguyên thì tỷ lệ không sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình qua đường hậu môn chỉ 37,5% (23).
Nghiên cứu của Đinh Công Thức (2017) tại Cần Thơ về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV có 10,7% MSM không bao giờ sử dụng BCS với bạn tình khi QHTD trong một tháng qua (25). Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Thông và cộng sự (2020) về đánh giá mô hình can thiệp phòng, chống HIV/STI trên nhóm MSM tại thành phố Cần Thơ với tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD qua đường hậu môn với bạn tình nam trước và sau can thiệp kết quả không thay đổi nhiều là 53,1% và 54,3% (26).