Chương 1: Tổng quan của vấn đề cần nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận của việc hạn chế rủi ro trong việc giao nhận hàng hóa xuất khẩu Chương 3: Phân tích thực trạng của việc hạn chế rủi ro trong quá trình nhận hàng xuất khẩu của công ty TNHH Kee Eun Việt Nam sang thị trường EU Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất vấn đề cần nghiên cứu SVTH: Phan Thị Ánh 5 Lớp: K46E5 Khoa: Thương mại quốc tế GVHD: Th.S Bùi Đức Dũng CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HẠN CHẾ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về rủi ro Rủi ro được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với doanh nghiệp đặc biệt là với doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì rủi ro ấy còn lớn hơn nhiều do môi trường kinh doanh rộng hơn bao gồm cả môi trường nội địa và môi trường quốc tế.
Rủi ro trong kinh doanh quốc tế là điều tất yếu không thể loại bỏ, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn có thể hạn chế và đề phòng nó xảy ra trong khả năng kiểm soát cẩn thận của mình. Theo Frank Knight một học giả của Mỹ thì “Rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được”. Lan Willet cho rằng: “Rủi ro là một bất trắc cụ thể có liên quan đến một biến cố không mong đợi”. Theo giáo trình Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế do PGS.TS Doãn Kế Bôn chủ biên thì “Rủi ro là những sự kiện bất ngờ, bất lợi đã xảy ra gây tổn thất cho con người”.
Rõ ràng theo khái niệm trên thì rủi ro có thể xác định và đo lường được, do đó có thể lường trước được và phòng ngừa, hạn chế ở mức tối đa. SVTH: Phan Thị Ánh 6 Lớp: K46E5 Khoa: Thương mại quốc tế GVHD: Th.S Bùi Đức Dũng Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu như sau: “Rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu là những bất trắc có thể xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình kinh doanh xuất khẩu gây thiệt hại cho doanh nghiệp xuất khẩu”. Khái niệm trên được dùng để nghiên cứu về hoạt động hạn chế rủi ro trong giao nhận hàng hóa xuất khẩu của công ty TNHH Kee Eun Việt Nam sang thị trường EU trong giới hạn khóa luận tốt nghiệp này. Khái niệm về tổn thất Là những thiệt hại mất mát xảy ra khi doanh nghiệp gặp vấn đề bất trắc trong kinh doanh bao gồm tổn thất thiệt hại về tài sản cũng như con người của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế - PGS.TS Doãn Kế Bôn thì “Tổn thất được hiểu là những thiệt hại, mất mát về tài sản; cơ hội mất hưởng về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra. Khái niệm về hạn chế rủi ro Trong thực tế chưa có nhà nghiên cứu rủi ro nào đề cập đến khái niệm về hạn chế rủi ro. Tuy nhiên, ta có thể hiểu hạn chế rủi ro là việc thực hiện các hoạt động kiểm soát và tài trợ rủi ro của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tối đa những tổn thất mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cơ sở luận về hạn chế rủi ro trong giao hàng XK 2.
Qui trình giao hàng XK Quá trình giao hàng XK của các công ty XNK thường được thực hiện qua các nghiệp vụ như sau: Thuê phương tiện vận tải SVTH: Phan Thị Ánh 7 Lớp: K46E5 Khoa: Thương mại quốc tế GVHD: Th.S Bùi Đức Dũng Việc thuê phương tiện vận tải phục vụ cho chuyên chở hàng hóa xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với các tác nghiệp của quy trình thực hiện hợp đồng. Nó trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng, sự an toàn của hàng hóa, dễ xảy ra rủi ro và có liên quan tới nhiều nội dung khác trong quá trình thực hiện hợp đồng. Chính vì vậy khi tiến hành thuê phương tiện vận tải cần phải tiến hành nghiên cứu, phân tích để có quyết định thích hợp, đảm bảo thực hiện tốt hợp đồng và hạn chế rủi ro. Mua bảo hiểm cho hàng hóa Trong kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa thường phải vận chuyển đi xa, trong những điều kiện vận tải phức tạp, do đó hàng hóa dễ bị hư hỏng, mất mát, tổn thất trong quá trình vận chuyển.
Chính vì vậy các doanh nghiệp thường mua bảo hiểm cho hàng hóa để giảm bớt các rủi ro có thể xảy ra. Để thực hiện việc mua bảo hiểm cho hàng hóa, doanh nghiệp cần dựa vào những căn cứ sau: - Căn cứ vào điều kiện cơ sở giao hàng trong hợp đồng TMQT. Việc mua bảo hiểm cho hàng hóa đều được quy định rõ ràng trong từng điều kiện cơ sở giao hàng theo Incoterm 2010. - Căn cứ vào hàng hóa vận chuyển: Khối lượng của hàng hóa, giá trị và đặc điểm hàng hóa vận chuyển là các căn cứ quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn các quyết định có mua bảo hiểm hay không và nếu mua thì mua ở điều kiện bảo hiểm nào.
- Căn cứ vào điều kiện vận chuyển: Loại phương tiện vận chuyển, chất lượng của phương tiện, loại bao bì bốc dỡ… là các yếu tố tạo nên rủi ro cho hàng hóa mà chúng ta cần xem xét để quyết định lựa chọn loại hình bảo hiểm cho thích hợp. Làm thủ tục hải quan SVTH: Phan Thị Ánh 8 Lớp: K46E5 Khoa: Thương mại quốc tế GVHD: Th.S Bùi Đức Dũng Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, hàng hóa khi đi qua cửa khẩu Việt Nam (XK hoặc NK) đều phải làm thủ tục hải quan. Quy trình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất khẩu gồm các bước sau đây: + Khai và nộp tờ khai hải quan + Xuất trình hàng hóa + Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính Tổ chức giao hàng với phương tiện vận tải Trong kinh doanh TMQT có nhiều phương thức vận tải. Mỗi phương thức đều có quy trình vận tải khác nhau.
Sau đây em xin trình bày phương thức giao hàng xuất khẩu bằng tàu biển để phù hợp với phạm vi của bài khóa luận này. Hàng XK của nước ta chủ yếu được giao bằng đường biển nên đây là phương thức rất quan trọng. Khi hàng hóa được giao bằng đường biển, doanh nghiệp XK phải tiến hành theo các bước sau: - Căn cứ vào chi tiết hàng XK, lập bảng kê hàng hóa chuyên chở (Cargo list) cho người vận tải để đổi lấy hồ sơ xếp hàng (Cargo plan, stowage plan). - Trao đổi với các cơ quan điều độ cảng để nắm vững kế hoạch giao hàng.
- Lập kế hoạch và tổ chức vận chuyển hàng vào cảng. - Bốc hàng lên tàu: Trong quá trình bốc hàng lên tàu phải thường xuyên giám sát, theo dõi để nắm chắc số lượng hàng giao và giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh. - Sau khi giao nhận hàng xong lấy biên lai thuyền phó (Mate’s receipt) để xác nhận hàng đã giao nhận xong trong đó xác nhận: Số lượng hàng hóa, tình trạng hàng hóa, cảng đến… SVTH: Phan Thị Ánh 9 Lớp: K46E5 Khoa: Thương mại quốc tế GVHD: Th.S Bùi Đức Dũng - Trên cơ sở hóa đơn thuyền phó đổi lấy vận đơn đường biển (Bill of lading – B/L), điều quan trọng là phải lấy được vận đơn đường biển hoàn hảo (hay vận đơn sạch) (Clean Bill of lading). Hạn chế rủi ro trong quá trình giao hàng XK 2.
Nhận dạng và phân tích rủi ro Nhận dạng rủi ro Kinh doanh trong nước đã tiềm ẩn khá nhiều rủi ro nhưng kinh doanh quốc tế còn nhiều rủi ro gấp bội phần. Do đó cần phải nhận dạng được các rủi ro để có các biện pháp khắc phục, đối phó với rủi ro với chi phí thấp nhất. Để nhận dạng rủi ro có nhiều phương pháp được áp dụng. Các phương pháp này giúp cho doanh nghiệp khoanh vùng và xác định dấu hiệu xuất hiện rủi ro, vừa giúp tránh bỏ sót các dấu hiệu, vừa làm tăng kết quả và độ tin cậy của việc nhận dạng rủi ro.
Các phương pháp chủ yếu thường được sử dụng trong nhận dạng rủi ro bao gồm: - Phương pháp báo cáo tài chính - Phương pháp sơ đồ - Phương pháp thanh tra hiện trường - Phương pháp phối hợp với các bộ phận khác trong tổ chức - Phương pháp thông qua tư vấn - Phương pháp phân tích hợp đồng - Phương pháp nghiên cứu các số liệu thống kê Khi nhận dạng rủi ro không chỉ sử dụng một phương pháp mà kết hợp các phương pháp nhận dạng để thu được kết quả chính xác nhất. Từ các phương pháp trên, các nhà nhà nghiên cứu đã nhận dạng được 3 loại rủi ro mà các doanh nghiệp XNK thường gặp trong quá trình giao hàng XK như sau: SVTH: Phan Thị Ánh 10 Lớp: K46E5 Khoa: Thương mại quốc tế GVHD: Th.S Bùi Đức Dũng + Rủi ro do không giao hàng đúng số lượng, chất lượng và chủng loại hàng hóa. + Rủi ro do chậm giao hàng hoặc không giao hàng: Người xuất khẩu có thể chậm giao hàng theo như tiến độ đã được quy định trong hợp đồng và không ít trường hợp họ còn không có khả năng giao hàng. Việc xác định rạch ròi giữa chậm giao hàng và không giao hàng không phải khi nào cũng dễ dàng khi trong hợp đồng không quy định cụ thể thời hạn cuối cùng và trong các hợp đồng có thời hạn giao hàng kéo dài, giao từng phần.
+ Rủi ro do người mua không nhận hàng: Người mua trả tiền để nhận hàng. Đây là điều hiển nhiên trong kinh doanh nói chung và trong thương mại quốc tế nói riêng. Như vậy, việc nhận hàng chính là quyền lợi của người mua. Tuy nhiên, đi kèm với quyền lợi được nhận hàng thì trong các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms) còn quy định nghĩa vụ của người mua là phải trả tiền và nhận hàng.
Điều này có nghĩa là, một khi người bán đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình thì người mua không được quyền từ chối nhận hàng. Với lập luận như vậy, một khi người mua không muốn nhận hàng thì phải tìm mọi cách chứng minh rằng người bán đã có lỗi trong quá trình giao hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng. Như vậy, khi người mua không nhận hàng sẽ xem như là rủi ro đã xảy ra với người bán.