Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng giầy dép sang thị trƣờng EU Chương 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng giầy dép của doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng giầy dép sang thị trƣờng EU của Công ty CP Giầy Thăng Long Chương 4: Định hƣớng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng giầy dép sang thị trƣờng EU cho Công ty CP Giầy Thăng Long. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GIẦY DÉP CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm về xuất khẩu Theo Luật thƣơng mại 2005, điều 28 khoản 1: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặt biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là vùng hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Xuất khẩu có thể hiểu một cách đơn giản là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ của một quốc gia sang các quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phƣơng thức thanh toán. Xuất khẩu cũng là một hình thức bán hàng cho nƣớc ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia. Kim ngạch xuất khẩu dùng để chỉ số tiền thu về của một quốc gia (hoặc một doanh nghiệp) sau hoạt động xuất khẩu một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định (1 tháng/1 quý/1 năm). Cách tính kim ngạch xuất khẩu sẽ căn cứ lƣợng tiền này và quy đổi thống nhất về một đơn vị tiền tệ.
Thông thƣờng ngƣời ta sẽ dùng khái niệm kim ngạch xuất nhập khẩu để chỉ tổng của cả kim ngạch xuất lẫn nhập. Đặc điểm của xuất khẩu Thứ nhất là nguồn lực áp dụng: Hoạt động xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các thƣơng nhân trong và ngoài nƣớc. Do vậy, hai bên phải tuân thủ các hiệp định thƣơng mại, điều ƣớc quốc tế, luật pháp của hai nƣớc cũng nhƣ của nƣớc thứ ba. Thứ hai là chủ thể của hoạt động xuất khẩu: Là những tổ chức, cá nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại hai quốc gia khác nhau.
Thứ ba là sự di chuyển hàng hóa: Hàng hóa đƣợc dịch chuyển qua biên giới từ nƣớc xuất khẩu sang nƣớc nhập khẩu hay đƣợc di chuyển ra vào trong các khu vực hải quan đặc biệt thông qua thủ tục hải quan. Phƣơng tiện vận chuyển có thể là tàu thủy, tàu hỏa, máy bay, xe vận tải tùy theo thỏa thuận của hai bên để phù hợp với điều kiện của từng công ty. 8 Thứ tư là hình thức mua bán: Thƣờng là mua bán qua hợp đồng xuất nhập khẩu với khối lƣợng mua lớn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Thứ năm là phƣơng thức thanh toán: Đồng tiền thanh toán trong hoạt động xuất khẩu là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại tệ đối với một hay cả hai bên ký kết hợp đồng.
Thông thƣờng tiền tệ đƣợc gửi đi từ nƣớc nhập khẩu sang nƣớc xuất khẩu qua hệ thống ngân hàng. Khi có tranh chấp thì hai bên tự giải quyết hoặc đƣa ra trọng tài thƣơng mại quốc tế của một trong hai quốc gia đã đƣợc quy định cụ thể tại hợp đồng mua bán hàng hóa. Vai trò của xuất khẩu 2. Vai trò của xuất khẩu với nền kinh tế Xuất khẩu là một hoạt động ngoại thƣơng cơ bản, xuất hiện từ rất lâu và đóng vai trò to lớn trong việc đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia.
Xuất khẩu nói chung và xuất khẩu mặt hàng giầy đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trƣởng và phát triển của nền kinh tế Thứ nhất, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong tăng trƣởng kinh tế. Một trong những chỉ số phản ánh hiệu quả kinh tế quốc gia là cán cân thƣơng mại (tổng giá trị xuất khẩu - tổng giá trị nhập khẩu). Khi cán cân thƣơng mại thặng dƣ, hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu, quốc gia sẽ thu đƣợc lƣợng ngoại tệ lớn. Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, xuất khẩu giúp giải quyết tình trạng dƣ thừa năng lực sản xuất khi các doanh nghiệp trong nƣớc mở rộng đƣợc thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm.
Thứ hai, xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Hoạt động xuất khẩu phát triển kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác, đặc biệt là các ngành công nghiệp phụ trợ. Việc đẩy mạnh xuất khẩu giúp tận dụng lợi thế kinh tế quốc gia, đẩy mạnh đầu tƣ sản xuất, xuất khẩu giúp tạo ra khối lƣợng sản phẩm lớn hơn, chất lƣợng cao hơn, đa dạng về mẫu mã giúp hình thành cơ cấu kinh tế theo hƣớng chuyên môn hóa. Thêm vào đó, trong bối cảnh yêu cầu quốc tế ngày càng cao, các doanh nghiệp phải liên tục cải tiến không ngừng để đáp ứng nhu cầu quốc tế, từ đó đóng góp vào việc tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – tối tân hóa, tăng cƣờng khả năng áp dụng khoa học và công 9 nghệ, trình độ sản xuất trong nƣớc cũng nhờ vậy mà đi lên.
Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng da giầy giúp Việt Nam có điều kiện chuyển đổi kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao hiệu quả xuất khẩu giầy dép tạo điều kiện cho các ngành sản xuất nguyên phụ liệu nhƣ da và giả da, vải, chỉ, đế giầy, phụ kiện trang trí.ngày càng đƣợc đầu tƣ và có cơ hội phát triển mạnh hơn. Bên cạnh đó, nhờ có xuất khẩu, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng có xu hƣớng chuyển dịch từ nông sản, thủy sản sang nhóm hàng công nghiệp chế biến. Theo Báo cáo xuất nhập khẩu của Bộ Công Thƣơng, năm 2016, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 80,3%), tiếp đó là nhóm hàng nông sản, thủy sản (khoảng 12,6%) và nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản (khoảng 2%).
Đến năm 2020, tổng giá trị xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 240,8 tỷ USD, chiếm 85,2% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả nƣớc (tăng gần 5% so với năm 2016). Tỷ trọng của xuất khẩu nhóm hàng nông sản, thủy sản có xu hƣớng giảm còn 8,9% tổng kim ngạch xuất khẩu với giá trị xuất khẩu năm 2020 đạt khoảng 25 tỷ USD. Sự tăng trƣởng về sản lƣợng xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến là một trong các yếu tố quan trọng giúp nƣớc ta chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tăng dần GDP nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần khu vực nông, lâm, thủy sản. Khu vực nông nghiệp giảm dần từ 16,3% trong tổng GDP năm 2016 xuống còn 14,85% năm 2020, đánh dấu những thành công của nƣớc ta trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Thứ ba, tạo công ăn việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân. Xuất khẩu ra tăng sẽ làm tăng thêm công ăn việc làm trong ngành kinh tế, nhất là các ngành sản xuất thâm hụt nguồn lao động nhƣ may mặc, da giầy. Cũng nhờ vậy đời sống ngƣời lao động đƣợc tăng cao, kích thích cung cầu trong nƣớc. Việt Nam vốn là một quốc gia có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ trong khi đó cầu nội địa lại không cao, việc đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu hàng da giầy giúp nƣớc ta hình thành các khu công nghiệp chế xuất từ đó giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho lao động nƣớc nhà.
Thứ tư, xuất khẩu góp phần mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đối ngoại của đất nƣớc. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nƣớc ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Hoạt động xuất khẩu góp phần nối liền sản xuất 10 và trao đổi trong nƣớc với sản xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trƣờng trong nƣớc với thị trƣờng khu vực và thế giới. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm giầy dép đến hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có 72 nƣớc có kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu USD/năm.
Các thị trƣờng xuất khẩu lớn của Việt Nam có thể kể đến nhƣ Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang Hoa Kỳ đạt 6,3 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 37,5% tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép), thị trƣờng EU cũng chiếm tỷ trọng 14,1 % với tổng ngạch xuất khẩu ngành sang thị trƣờng này năm 2020 đạt 4,52 tỷ USD. Đây đƣợc coi là hai thị trƣờng lớn và quan trọng nhất với ngành hàng giầy dép Việt Nam. Ngoài ra, phần lớn nguồn nguyên liệu sản phẩm xuất giầy dép của Việt Nam đƣợc nhập khẩu từ các nƣớc nhƣ Trung Quốc, Hàn, Thái Lan, .sự phát triển của hoạt động xuất khẩu giầy dép góp phần không nhỏ giúp Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào thị trƣờng kinh tế thế giới. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp Trong bối cảnh toàn cầu hóa nhƣ hiện nay, kinh doanh vƣợt biên giới đã trở thành một xu hƣớng tất yếu của mọi quốc gia và doanh nghiệp.
Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp sớm tiếp cận với thị trƣờng quốc tế, hƣớng đến phát triển sản xuất và mở rộng thị trƣờng. Thứ nhất, xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng, mở rộng các mối quan hệ kinh doanh trong và ngoài nƣớc. Hoạt động xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng, khách hàng của doanh nghiệp không chỉ dừng lại trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà có thể mở rộng ra phạm vi toàn thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế phẳng nhƣ hiện nay, sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ giúp các doanh nghiệp ngày càng dễ dàng tiếp cận và mở rộng hệ thống đối tác toàn cầu.
Từ đó, hoạt động xuất khẩu giúp doanh có thêm nhiều cơ hội phát triển, giúp tăng doanh số và tăng uy tín của công ty so với các đổi thủ cùng ngành. Thứ hai, thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nƣớc có điều kiện tham gia vào thị trƣờng quốc tế, từ đó tạo động lực cải tiến và phát triển hệ thống sản xuất của doanh nghiệp. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cùng với đó là những quy định khắt khe về chất lƣợng sản phẩm của các thị trƣờng 11 khó tính nhƣ Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu, các doanh nghiệp phải hình thành hệ thống sản xuất phù hợp với yêu cầu của từng thị trƣờng.