CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Tổng quan lý thuyết 1. Các lý thuyết thương mại cổ điển và tân cổ điển Lý thuyết lợi thế so sánh : Thương mại quốc tế đã ra đời từ rất lâu và đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Mỗi quốc gia đều có nguồn lực và khả năng sản xuất giới hạn, việc trao đổi buôn bán quốc tế sẽ cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước.
Lý thuyết lợi thế so sánh dựa vào việc xem xét chi phí sản xuất so sánh để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm ở các nước. Đồng thời, lý thuyết này được thực hiện trên nguyên tắc chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có chi phí so sánh thấp hơn sau đó trao đổi lấy sản phẩm có chi phí so sánh cao hơn nhằm thu lợi từ mức giá tương đối rẻ hơn so với sản xuất trong nước. Lý thuyết H-O Những hạn chế trong lý thuyết của D.Ricacrdo đã được bổ sung bởi sự hình thành của lí thuyết H-O. Theo lý thuyết của Ricardo thì lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt về năng suất lao động.
Ricardo nhấn mạnh tới năng suất lao động và giải thích rằng những sự khác biệt về năng suất lao động giữa các nước chính là ngụ ý về lợi thế so sánh. Hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin (vào năm 1933) đã đưa ra cách giải thích khác về lợi thế so sánh, giải thích được những thiếu sót trong quan điểm của D. Các nhà kinh tế học này đã chứng tỏ rằng lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trong độ sẵn có các yếu tố sản xuất. Bằng cách sử dụng khái niệm độ sẵn có các yếu tố hai tác giả muốn đề cập đến mức độ mà một nước có sẵn các nguồn lực như đất đai, lao động và vốn.
Các nước có độ sẵn có các yếu tố là khác nhau, và sự sẵn có các yếu tố khác nhau đó giải thích những sự khác biệt về giá cả các nhân tố. Cụ thể là độ dồi dào của các nhân tố càng lớn thì giá cả của nhân tố đó càng rẻ. Hội nhập kinh tế quốc tế Khái niệm Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình mà trọng tâm là mở cửa kinh tế, tham dự phân công, hợp tác quốc tế tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước với bên ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể được trong quan hệ kinh tế quốc tế. Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu.
Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ. Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau: Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan. Tuy nhiên, các ưu đãi này còn hạn chế về phạm vi, số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan và mức độ cắt giảm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các mô hình điển hình của liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất.
Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan, các hạn chế về định lượng, giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Những năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn nhiều. Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh.vực khác như dịch vụ, đầu.tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định.FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP- đang đàm phán).
Liên minh thuế quan (CU): Các thành.viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối 5 với các nước bên. Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga- Bêlarút-Cadăcxtan. Thị trường chung: Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào.phi quan thuế trong thương mại nội khối và có.chính sách thuế.quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản.xuất chung của cả khối. Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất trước khi trở thành một liên minh kinh tế.
Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô.hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung duy nhất cùng với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung. Ví dụ: EU hiện nay.có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác. Nhưng về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định. Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị.
Nhìn chung, các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế Việc tham gia vào các tổ chức kinh tế Thế Giới và khu vực sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam thực hiện những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu. Nội dung của hội nhập là mở cửa thị trường cho nhau vì vậy khi Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế sẽ mở rộng quan hệ bạn hàng.
Cùng với việc hưởng ưu đãi về thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường Thế Giới. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế. Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh, tạo cơ hội giao lưu mở rộng nguồn lực các nước. Đồng thời hội nhập cũng góp 6 phần duy trì hòa bình ổn định, tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng cao vị trí Việt Nam trên trường quốc tế.
Khái quát về hoạt động xuất khẩu Khái niệm hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Đối với các quốc gia khác trên thế giới hoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò không thể thiếu được do mục tiêu phát triển đất nước. Nếu mỗi quốc gia chỉ đóng cửa phát triển, áp dụng phương thức tự cung tự cấp thì không thể có cơ hội vươn lên củng cố thế lực của mình và nâng cao đời sống nhân dân. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá vượt ra ngoài biên giới một quốc gia.
Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi thì các quốc gia đều quan tâm đến việc mở rộng hoạt động này. Vai trò của hoạt động xuất khẩu Đối với nền kinh tế thế giới Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế. Xuất khẩu có một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới. Do những điều kiện khác nhau nên một quốc gia có thể mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác.
Vì vậy để có thể khai thác được lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng các quốc gia.phải tiến hành trao đổi với nhau dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của.David Ricacđo, ông nói rằng: “Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của chính mình”, và khi tham gia vào thương mại quốc tế thì “quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất các loại hàng hoá sẽ tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng có bất lợi lớn hơn”. Nói cách khác, một quốc gia trong tình huống bất lợi vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Từ việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế 7 tương đối. Sự chuyên môn hoá đó làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất giúp tiết kiệm được nguồn nhân lực như vốn, kỹ thuật, nhân lực trong quá trình sản xuất hàng hoá.
Do đó, tổng sản phẩm trên quy mô toàn thế giới cũng sẽ được gia tăng. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, xuất khẩu tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có các điều kiện: nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật. Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng có đủ các điều kiện đó và để giải quyết tình trạng này buộc họ phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà trong nước chưa có đủ khả năng đáp ứng.